Chuyên Dùng Cho Hoa Màu, Phân bón

Vai trò của Đồng Copper Đối Với Cây Trồng

Đồng Copper đối với cây trồng

Vai trò của Đồng Copper đối với cây trồng: Đồng (Cu) đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của cây trồng. Đặc biệt, Đồng là nguyên tố duy nhất tham gia cấu tạo enzyme không thể thay thế bởi bất kỳ nguyên tố nào khác. Đồng có thể tìm thấy dưới dạng tự nhiên hoặc trong dạng khoáng chất.

Đồng cũng có thể gây ra các triệu chứng thiếu sắt tương tự như mangan và kẽm. Từ năm 1931, người ta đã phát hiện ra rằng cây trồng mới phát triển tốt khi có Đồng. Dần dần, người ta nhận thấy rằng cây trồng trên các loại đất than bùn, đất giàu hữu cơ có hiện tượng thiếu Đồng.

Vai trò của Đồng Copper đối với cây trồng trong quá trình sinh lý và sinh hóa

Đồng đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh lý sinh hóa của cây trồng, bao gồm quá trình cố định Nitơ, khử nitrat, phân giải, khử CO2, tổng hợp clorofin, tổng hợp các chất điều hòa sinh trưởng, quá trình thoát hơi nước, chuyển hóa gluxit, tạo các mô mới thân lá rễ, và ảnh hưởng đến khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chịu nóng của cây.

Đồng còn ảnh hưởng đến sự tổng hợp nhiều loại chất đường bột, hợp chất có đạm, chất béo, clorofin và các sắc tố khác, vitamin C và các enzym.

Khi cây trồng thiếu đồng, lá sẽ mất màu xanh giữa các gân, thường xuyên héo rũ và dễ rụng. Các đốm màu vàng và quăn phiến lá xuất hiện, đầu lá chuyển sang màu trắng, số lượng hoa hình thành giảm, cây yếu và dễ bị nấm tấn công.

Hiện tượng thiếu đồng thường xuất hiện ở cây lúa, gây ra hiện tượng trắng lá và các hạt đầu bông không thụ phấn (lúa bị rơm đầu), đẻ nhiều nhưng dảnh thành bông ít và xuất hiện ở các cây hòa thảo khác.

Sự bón nhiều đạm đã làm xuất hiện hiện tượng thiếu đồng có làm giảm năng suất và phẩm chất cỏ. Bón nhiều lân cũng làm giảm hàm lượng đồng và năng xuất cam quýt.

Dấu hiệu nhận biết sự dư thừa đồng trong cây trồng

Đồng dư thừa có thể gây hại cho cây khoai lang. Khi nồng độ đồng ở vùng rễ đạt mức thấp như 5 mM, cây đã bắt đầu tăng trưởng chậm đáng kể. Nếu nồng độ tăng lên hơn 20 mM, rễ sẽ ngừng phát triển, dẫn đến sự ngừng phát triển của thân và lá, và có thể gây ra tình trạng héo trầm trọng cho cây. Khác với ngộ độc kẽm, khi cây bị ngộ độc đồng, lá ít hoặc không có vết úa, và cũng không có sắc tố màu đỏ.

Độc tính của đồng cũng có thể gây ra các triệu chứng giống như thiếu sắt, tương tự như độc tính của mangan và kẽm.

Đồng Copper đối với cây trồng

Đồng trong đất

Từ năm 1931, người ta đã nhận ra rằng cây trồng chỉ phát triển tốt khi có đồng. Dần dần, người ta phát hiện ra hiện tượng thiếu đồng trên các loại đất than bùn, đất giàu hữu cơ. Gần đây, hiện tượng này cũng xuất hiện trên nhiều loại đất khác.

Đồng dễ tiêu thường có nhiều trong đất và thường được bổ sung vào đất qua phân bón và các loại thuốc trừ nấm bệnh. Lượng đồng trong đất phụ thuộc vào đá mẹ và hàm lượng Cu trong đất tăng dần qua quá trình tích lũy sinh vật (cây trồng hút Cu từ các tầng sâu đưa lên mặt đất). Lượng Cu dễ tiêu trong đất thay đổi theo lượng chất hữu cơ.

Chất hữu cơ trong đất kết hợp với đồng thành các phức chất đồng – hữu cơ mà cây trồng khó sử dụng. Nếu trong đất lượng Nitơ và Lưu huỳnh cao thì phức hợp đồng – mùn càng bền. Sét cũng có thể hấp thụ các ion đồng, mặc dù sự hấp thụ có yếu hơn. Đất giàu hữu cơ lại giàu sét thì sự thiếu đồng càng dễ xuất hiện. Ở nước ta, các vùng thung lũng núi, vùng đất sinh lầy ven biển, đất than bùn, đất phèn giàu hữu cơ đều có thể xuất hiện hiện tượng thiếu đồng.

Các nghiên cứu cho thấy rằng khi pH đất tăng lên hàm lượng đồng dễ tiêu giảm xuống. Do đó, việc bón vôi cải tạo độ chua cũng dễ dẫn đến hiện tượng thiếu đồng.

Người ta còn nhận thấy rằng có quan hệ nghịch giữa lượng Alumini và đồng dễ tiêu. Khi hàm lượng Alumini tăng lên cây hút đồng ít đi. Người ta cũng thấy mối quan hệ tương tự giữa đồng và sắt.

Các loại đất chua, nhiều sắt, nhôm di động càng dễ xuất hiện hiện tượng thiếu đồng.

Những nguyên liệu chính được dùng trong quá trình sản xuất phân chứa Đồng

Sẽ có hai nhóm chủ yếu:

Các hợp chất của đồng có thể hòa tan trong nước bao gồm Đồng sunfat ngậm phân tử nước (CuSO4.H2O) với tỷ lệ Cu là 35%, có thể ở dạng bột hoặc viên. Đồng sunfat ngậm 5 phân tử nước (CuSO4.5H2O) có tỷ lệ Cu là 25%, cũng có thể ở dạng bột hoặc viên. Phức đồng (Cu.EDTA) ở dạng bột hoặc viên có 15% Cu.

Các hợp chất của đồng có thể tan trong axit xitric bao gồm Đồng (II) oxit (CuO) chứa 75% Cu, đồng (I) oxit (Cu2O) chứa 89% Cu; sunfat hydroxit đồng (CuSO4.3Cu(OH)2.2H2O) chứa 53% Cu ở dạng bột hoặc viên; đồng silicat ở dạng thủy tinh (silicat đồng) ở dạng bột; muối đồng amôn chứa 30% đồng.

Các hợp chất trên có thể được sử dụng trực tiếp làm phân bón hoặc để sản xuất phân đa nguyên tố chứa đồng. Quặng pyrit Cu chứa 0,3-0,6% Cu cũng được sử dụng như một loại nguyên liệu để sản xuất các loại phân đa nguyên tố chứa đồng và chứa lưu huỳnh hoặc để bón trực tiếp.

Ứng dụng phân bón chứa Đồng

Để cung cấp đồng cho cây trồng khi thiếu đồng, có hai phương pháp chính:

  • Phun dung dịch lên lá: Các loại muối đồng hòa tan trong nước được pha với nồng độ tương đương 0,02-0,05% CuSO4. Lượng dung dịch phun lên lá là từ 600-1000 lít cho mỗi hecta, hoặc ngâm hạt giống trong dung dịch này trong vòng 6-12 giờ trước khi gieo.
  • Sử dụng các muối đồng không hòa tan trong nước nhưng hòa tan trong axit xitric, ví dụ như đồng oxit và các silicat, các muối đồng amôn phootphat. Lượng bón tương đương 10-25kg Cu cho mỗi hecta.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc bón đồng nhiều năm có thể tích lũy và gây độc. Nhiều vùng trồng nho đã tích lũy nhiều đồng đến mức gây độc đồng do sử dụng dung dịch boócđô (hỗn hợp sunfat với vôi) qua nhiều năm để trừ bệnh nho. Các vườn rau thường dùng thuốc trừ sâu bện có đồng cũng thường xảy ra hiện tượng độc thừa đồng.

Sự thừa đồng thường gây ra sự thiếu sắt và kẽm và liên quan đến sự cung cấp Nitơ và Molypden. Việc tạo sự cân đối giữa Cu, Fe, Zn, Mo và N là điều kiện cần thiết để ngăn chặn độc hại do thừa đồng. Đó cũng là cơ sở của kỹ thuật sử dụng phối hợp các vi lượng.

FAQs:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *