phan-bon-giup-tang-san-luong-co-thuc-su-hieu-qua

Phân bón giúp tăng sản lượng có thực sự hiệu quả

Phân bón giúp tăng sản lượng có thực sự hiệu quả. Các nhà nghiên cứu Đài Loan đã phát triển thành công một loại phân bón vi sinh mới có khả năng tăng sản lượng cây trồng lên tới 440%.

phan-bon-giup-tang-san-luong-co-thuc-su-hieu-qua

Phân bón giúp tăng sản lượng

Hội đồng Nông nghiệp Đài Loan dẫn lời giám đốc Trạm Khuyến nông và Nghiên cứu Nông nghiệp Cao Hùng Tai Shun-fa chia sẻ mộ cách đầy tiếc nuối rằng: Trong vài năm qua nếu tận dụng được nguồn phế phẩm này để làm phân bón vi sinh đã có thể tạo tạo ra giá trị hàng trăm triệu USD, đồng thời có thêm một lựa chọn mới trong bối cảnh nguồn cung phân bón ngày càng thắt chặt.

Nhà khoa học Chen Tai-yuan cho biết, họ đã tiến hành thu thập các vi sinh vật từ các trang trại hữu cơ trên khắp hai huyện Cao Hùng và Bình Đông để nghiên cứu. Kết quả, từ hơn 30 loại thu thập được, các nhà nghiên cứu đã xác định được một loại vi sinh vật trên cánh đồng lúa ở thị trấn Wandan của huyện Bình Đông cho thấy hứa hẹn trong việc thúc đẩy tăng trưởng năng suất cây trồng.

Ông Chen nói, vi khuẩn Bacillus velezensis KHH13 hoạt động bằng cách phân giải các khoáng chất như phốt pho và kali, làm cho chúng dễ tiếp cận hơn với cây trồng. Ngoài ra, vi sinh vật này cũng có thể tạo ra axit indole-3-acetic, hoặc IAA- được biết đến như một loại hormone tăng trưởng thực vật và các enzyme quan trọng đối với sự phát triển của cây trồng.

“Trong các thử nghiệm thực địa, vi khuẩn Bacillus velezensis KHH13 đã được chứng minh có khả năng làm gia tăng đáng kể trọng lượng tịnh của nhiều loại rau xanh. Ví dụ, trọng lượng của bắp cải trắng đã tăng 80%, trong khi cải dầu và cần tây tăng đến 190%, còn rau diếp xoăn tăng tới 440%”, ông Chen nói.  Ngoài ra KHH13 cũng có thể tạo ra các hợp chất để cạnh tranh với các sinh vật gây bệnh, cải thiện sức khỏe của đất và bảo vệ cây trồng khỏi bị hư hại bởi thời tiết.

Ông Tai Shun-fa cho biết thêm, loại phân bón vi sinh này đã được cấp bằng sáng chế ở Đài Loan và được cấp phép sử dụng không độc quyền.

Hiện thị trường địa phương đã bắt đầu bán loại phân bón này với tên gọi Wandan Microiotics Fertilizer. Nó cũng nằm trong chương trình trợ giá phân bón hữu cơ của Cơ quan Nông nghiệp và Thực phẩm Đài Loan.

quy-trinh-canh-tac-lua-nep-hieu-qua-cua-nguoi-nong-dan

Quy trình canh tác lúa nếp hiệu quả của người nông dân

Quy trình canh tác lúa nếp hiệu quả của người nông dân. Hiện nay lúa nếp được canh tác nhiều nơi ở ĐBSCL với khoảng 198 ngàn ha/vụ (chiếm 13% diện tích gieo sạ vùng ĐBSCL theo số iệu vụ đông xuân 2020 – 2021).

quy-trinh-canh-tac-lua-nep-hieu-qua-cua-nguoi-nong-dan

Trong đó có 3 vùng tập trung nhất là Phú Tân (An Giang) với diện tích khoảng 10.000 ha (chủ yếu giống nếp CK92); Chợ Gạo (Tiền Giang) khoảng 6.000 ha (chủ yếu Nếp Bè Tiền Giang); Thạnh Hóa (Thủ Thừa, Long An, chủ yếu giống nếp IR4625) với khoảng 30.000 ha. Điểm chung nhất của 3 vùng lúa nếp này là đều sử dụng giống lúa ngắn ngày, 95 – 100 ngày và có thể trồng được 3 vụ/năm.

Về mặt khoa học, thời vụ, kỹ thuật canh tác lúa nếp không có nhiều khác biệt so với các giống lúa tẻ. Điều khác biệt rõ nhất có thể kể đến là các giống nếp đều mẫn cảm với sâu rầy, nhất là rầy nâu, nhện gié và đạo ôn. Bởi vậy, bà con cần tuân thủ xuống giống theo nguyên tắc đồng loạt, tập trung, né rầy và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phổ biến như “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”.

Ngoài ra, so với một số giống lúa tẻ, lúa nếp có phần dài ngày và yếu rạ hơn. Vì vậy, quá trình canh tác qua nhiều năm, nông dân cũng đúc rút kinh nghiệm bón phân cân đối, không bón thừa đạm, nhất là bón đúng thời điểm cây lúa cần.

Thực tế, trong điều kiện biến đổi khí hậu, hạn mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, sâu bệnh hại ngày một tác động mạnh hơn đến lúa nếp. Chăm sóc cây lúa nếp khỏe ngay từ đầu vụ với quy trình bón phân thông minh sẽ giúp bà con đạt được “hiệu quả kép” về năng suất, chất lượng, giúp cân bằng môi trường đất nước, hạn chế lượng thuốc BVTV trên đồng ruộng.

NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI CANH TÁC LÚA NẾP

Vùng đất trồng nếp phải chuyên canh, làm cùng một giống để tránh lẫn giống của vụ trước sang vụ sau.

Sử dụng giống lúa nếp có độ thuần cao, tiêu chuẩn giống xác nhận 1. Làm đất kỹ, có mặt bằng tốt và đánh rãnh nước sâu 20 – 30 cm, ngang 20 – 30 cm; cách 6 – 8 m có 1 rảnh để xổ phèn, xổ mặn, tháo nước khi cần.

Sạ cấy: Có thể sạ lan 80 kg/ha hoặc cấy 50 – 60 kg/ha, gần đây có máy sạ cụm (sạ khóm) tiết kiệm giống chỉ cần 50 – 60 kg/ha.

Thời vụ gieo sạ: Tuân thủ nghiêm nhặt theo lịch gieo sạ đồng loạt, tập trung né rầy và theo con nước của ngành nông nghiệp khuyến cáo.

Cây lúa nếp với đặc tính yếu, nên nếu bón thừa phân đạm, cây sẽ dễ bị nhiễm sâu bệnh, dễ đổ ngã, gây thất thoát năng suất, ảnh hưởng đến chất lượng nếp, và gia tăng chi phí đầu vào. Đồng thời, trước khi thu hoạch không phun thuốc BVTV sẽ vừa gây lãng phí vừa ảnh hưởng đến chất lượng hạt, tồn dư thuốc BVTV…

cau-chuyen-giam-phan-bon-trong-trong-trot-hien-nay

Câu chuyện ‘giảm phân bón’ trong trồng trọt hiện nay

Câu chuyện ‘giảm phân bón‘ trong trồng trọt hiện nay đang rất được quan tâm. Vì khi sử dụng quá nhiều phân bón sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cả cây trồng.

cau-chuyen-giam-phan-bon-trong-trong-trot-hien-nay

Chất thải phân bón và áp lực lên đất

Áp lực thâm canh trong sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng. Trong 20 năm qua (2000 – 2020) tổng lượng phân hoá học sử dụng ở nước ta về lý thuyết dao động từ 215 – 415 kg chất khoáng tiêu chuẩn / ha (DDK / ha), bình quân khoảng 350 kg DDK / ha. /năm.

Nhìn chung, lượng phân hóa học sử dụng của Việt Nam tương đương với các nước có nền thâm canh tiên tiến trong khu vực (Hàn Quốc 467 kg / ha, Nhật Bản 403 kg / ha, Trung Quốc 390 kg / ha). Tuy nhiên, ở nước ta, đặc biệt là những vùng đông dân cư như đồng bằng sông Hồng, cường độ canh tác ngày càng đáng báo động vì nó tạo áp lực phân bón nhiều hơn cho đất nông nghiệp.

Mật độ canh tác ở nhiều nơi lên đến trên 1.000 đơn vị DDK / ha / năm, thậm chí cao hơn ở những vùng chuyên canh rau màu, cà phê, hồ tiêu, vùng trồng hoa ven đô.

Áp lực phân bón lên đất nông nghiệp đã tăng 30 – 50% so với giai đoạn 1980 – 2000. Thực tế này đặt ra cảnh báo về sự gia tăng phú dưỡng phốt pho và nitơ, đặc biệt là trong các hệ thống thâm canh lúa, cà phê và các cây trồng kinh tế khác. Mặt khác, cần nhấn mạnh rằng xu hướng sử dụng phân bón hóa học ở các nước công nghiệp phát triển, mặc dù trước đây là cao, nhưng đã giảm đáng kể trong những năm gần đây.

Theo thống kê, tổng lượng phân bón sử dụng trong những năm gần đây khoảng 10 triệu tấn / năm (năm 2020 là 10,23 triệu tấn), tuy nhiên hiệu quả vẫn thấp, chỉ đạt dưới 50%. Các nghiên cứu cho thấy hàng năm có 40-60% lượng phân bón bị thất thoát trong các hệ thống canh tác, điều này không chỉ gây lãng phí (hơn 2 tỷ USD về tài chính) mà còn gây ô nhiễm môi trường và tăng phát thải khí nhà kính (GHG).

Nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa thể giải quyết vấn đề an ninh lương thực

Nhìn thấy mặt trái của phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật, có một xu hướng đang ngày càng được khuyến khích: nông nghiệp hữu cơ – bác bỏ hoàn toàn các thành tựu của hóa chất nông nghiệp.

Mặc dù xu hướng nông nghiệp hữu cơ đang ngày càng gia tăng, nhưng số liệu và thực tế đã chứng minh rằng chỉ “dựa vào thiên nhiên và nguồn nước từ bầu trời” là không đủ để đảm bảo cuộc sống đủ đầy cho nhân loại.

Hạn hán, lũ lụt và xâm nhập mặn đã gây ra nạn đói ở nhiều vùng. Xóa đói giảm nghèo trở thành mục tiêu số một của thiên niên kỷ về phát triển bền vững. Các thí nghiệm trồng cây không sử dụng phân bón vẫn cho năng suất nhưng chỉ tương đương 20 – 30% tổng năng suất hiện nay.

FAO và WHO dự báo đến cuối năm nay sẽ có tới một tỷ người rơi vào cảnh nghèo đói. An ninh và an toàn thực phẩm, điều tối quan trọng đối với nhân loại, vẫn là chủ đề thảo luận hàng đầu ngay cả trong và sau đại dịch Covid-19.

Giảm phân bón hóa học và phát triển nông nghiệp tuần hoàn sinh thái: xu hướng tất yếu

cau-chuyen-giam-phan-bon-trong-trong-trot-hien-nay

Như đã đề cập ở trên, chỉ 50% lượng phân hóa học được sử dụng được coi là hiệu quả, trong khi 50% còn lại bị thất thoát trong hệ thống và thải ra môi trường, dẫn đến câu hỏi liệu có nên chỉ 50% lượng phân hóa học so với số lượng được sử dụng ngày nay.

Đó không phải là cách vấn đề tối ưu hóa hoạt động.

Về phản ứng sinh học, năng suất tốt nhất là phản ứng quang hợp tự nhiên, nhưng tối đa vẫn chỉ đạt 68% so với lý thuyết. Chưa có quốc gia nào đặt tỷ lệ giảm phân bón hóa học là 50% trên quy mô toàn quốc. Trung Quốc đưa ra mức giảm 10% đối với phân khoáng trong vòng 10 năm (1% / năm). Tỷ lệ giảm trên thực tế phụ thuộc vào lịch sử canh tác, mùa vụ, loại đất, thời tiết và mức năng suất mong muốn của mỗi quốc gia.

Các nước phát triển hiện đã thực hành nông nghiệp chính xác. Chúng ta có các công thức khá phổ biến như “1 phải, 5 giảm” (1P5G) hoặc “3 giảm 3 tăng” (3G3T). Với cơ sở dữ liệu lớn và thông tin khí tượng tức thời, kỹ thuật nông nghiệp đang hướng tới nông nghiệp chính xác: đúng hơn, đủ và chính xác hơn sự thụ tinh.

su-dung-phan-bon-tren-cay-an-trai-dat-hieu-qua-cao

Sử dụng phân bón trên cây ăn trái đạt hiệu quả cao

Sử dụng phân bón trên cây ăn trái đạt hiệu quả cao – sử dụng phân bón tiết kiệm, hiệu quả là vấn đề nhà nông nên quan tâm để canh tác có hiệu quả, mang lại lợi nhuận.

su-dung-phan-bon-tren-cay-an-trai-dat-hieu-qua-cao

Nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón

Theo GS.TS Trần Văn Hâu, giảng viên khoa Nông nghiệp (Trường Đại học Cần Thơ), phân bón sẽ đem lại hiệu quả, chất lượng và năng suất nếu chúng ta bón đúng cách. Ngược lại, vườn cây chẳng những không có năng suất, chất lượng mà còn mất tiền. Trong bối cảnh giá phân bón tăng cao như hiện nay, nhà nông cần cân nhắc phương pháp sử dụng để có chất lượng như mong muốn.

Muốn sử dụng phân bón hiệu quả, nhà nông cần sử dụng phân bón theo nguyên tắc “4 đúng”. Thứ nhất là bón đúng thời kỳ cây cần. Các loại trái cây hầu như có đặc tính sinh trưởng gián đoạn có tính thời kỳ. Thời kỳ ra đọt, ra hoa, phát triển, mỗi thời kỳ đòi hỏi một nhu cầu dinh dưỡng khác nhau nên cách bón khác nhau.

Trong một thời kỳ, lại chia từng giai đoạn như khi mới đậu trái, nuôi trái, lớn nhanh… Chỉ cần bón không đúng thời kỳ, chẳng những trái không đạt mà còn giảm năng suất. Mỗi lần bón phân, bà con tưới nước liên tục thì năng suất cao.

Thứ hai, cần bón đúng phân. Phân bón có đa lượng và vi lượng. Một số doanh nghiệp chia thêm trung lượng. Đa lượng là đạm, lân, kali. Vi lượng là canxi, magie, lưu huỳnh, sắt đồng, kẽm, mangan… Bón tỷ lệ đúng thì mới hiệu quả, nếu không sẽ có hại.

Thứ ba, cần bón đúng liều lượng phân tuỳ thuộc vào giai đoạn, tuổi cây, năng suất… Bón phân phải “nhìn cây, nhìn đất, nhìn trời” để quyết định lượng phân. Tùy vào đất xấu hay tốt để có quy trình, lượng bón khác nhau. Việc bón phân cũng cần xem tình hình thời tiết.

Cuối cùng, phải bón đúng cách. Thông thường đối với đất vườn thì phân bón hay bị rửa trôi, do đó bà con phải xới đất tơi xốp để giữ phân sau khi cây sử dụng không hết.

Theo Thạc sỹ Lê Trí Nhân, công tác tại Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến Tre: Bà con bón nhiều phân hoá học sẽ làm giảm pH đất. Bón nhiều phân hữu cơ tươi cũng sẽ làm chua đất. Do đó, bà con nên thiết kế hệ thống canh tác, để nước ra vô thường xuyên làm đất bớt chua.

Mặt khác, bà con cần điều chỉnh độ pH, từ đó sẽ điều chỉnh hiệu quả sử dụng phân bón. Chẳng hạn nếu pH <4.5, mỗi kg phân bón bà con lãng phí khoảng 70%. Nếu pH được nâng lên 5.0, mỗi kg phân bón bà con vẫn còn lãng phí hơn 53%. Đối với đất thường, pH bằng 6.0, mức hiệu quả sử dụng phân bón cũng chỉ mới đạt 80%, bà con vẫn còn lãng phí 20%. Tuy nhiên đối với đất trung tính, pH bằng 7.0 thì hiệu quả sử dụng phân bón lên đến 100%

su-dung-phan-bon-cho-vu-lua-xuan

Sử dụng phân bón cho vụ lúa xuân

Sử dụng phân bón cho vụ lúa xuân cần chú trọng những điều sau.

su-dung-phan-bon-cho-vu-lua-xuan

Yêu cầu đất đai và thời vụ trồng lúa ở Việt Nam

Cây lúa không kén đất. Ở nước ta lúa có thể được trồng và cho năng suất trên hầu hết các loại đất: Đất phù sa của các hệ thống sông, đất phèn, đất mặn, đất bạc màu. Tuy vậy năng suất lúa cũng rất khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố hạn chế của đất. Đất mặn yếu tố hạn chế chính là nồng độ Cl- cao, EC lớn cho nên phải sử dụng các giống có khả năng chịu mặn. Đối với đất phèn yếu tố hạn chế chính là thiếu lân và nồng độ Al+3 và Fe+2, canh tác lúa trên loại đất này phải chọn những giống có khả năng chống chịu với các hạn chế trên. Đất bạc màu, yếu tố hạn chế chính là hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu thấp.

Thời vụ trồng lúa đông xuân ở Việt Nam

Ở nước ta có 2 vùng khí hậu chính: Từ đèo Hải Vân trở ra phía Bắc có khí hậu cận nhiệt đới, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều nên trồng lúa xuân để đạt năng suất cao phải chọn lịch gieo trồng thích hợp.

Lịch gieo cấy lúa xuân vùng đồng bằng Bắc bộ: Vụ xuân sớm gieo 20-25/11, cấy 15/1, gặt cuối tháng 5, đầu tháng 6; Vụ xuân chính vụ gieo 10-20/12, cấy 15/2, gặt tháng 6; Vụ xuân muộn gieo 20/1-5/2, cấy 5/3, gặt cuối tháng 6. Hiện nay hầu hết các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng cấy xuân chính vụ và xuân muộn, một số tỉnh/thành như: Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội tỷ lệ xuân muộn tới 80-90% và diện tích sử dụng giống lúa lai cũng tăng lên.

Phía Nam đèo Hải Vân có khí hậu nhiệt đới điển hình nên có thể gieo trồng lúa ở bất cứ thời điểm nào trong năm, tuy vậy đối với vụ đông xuân thì lịch gieo trồng như sau:

Vụ đông xuân sớm gieo 6/11; Vụ đông xuân chính vụ gieo 21/11; Vụ đông xuân muộn gieo 6/12. Tất cả còn phụ thuộc vào độ ngập nông hay sâu, lũ rút sớm hay muộn. Ở miền Nam thường sử dụng những giống ngắn ngày.

Hệ số bón phân bón của cây lúa:

Tùy theo chân đất, giống lúa, thời vụ gieo cấy, lượng phân bón mà hệ số sử dụng đạm, lân và kali cũng khác nhau. Trong điều kiện lúa nước ở Việt Nam hệ số sử dụng như sau:

Đạm 30 – 45% hoặc 30 – 50%.

Lân 15 – 25% hoặc 20 – 30%.

Kali 40 – 50% hoặc 50%.

(40% chỉ đạt được nếu bón đạm 2 – 4 lần)

Mức khuyến cáo bón phân ở Việt Nam

Ở đồng bằng sông Hồng với mức bón phân chuồng 5 – 6 tấn/ha để đạt năng suất lúa 5,5 tấn/ha thì lượng bón khuyến cáo như sau: Lượng bón (kg/ha) đất phù sa sông Hồng N 100-110 kg/ha; P2O5 40-50 kg/ha; K2O 30-40 kg/ha; Đất phù sa sông Gâm N 90-100kg/ha; P2O5 50-60kg/ha; K2O 30-40 kg/ha; Đất phèn N 90-100kg/ha, P2O5 60-70 kg/ha; K2O 30-40 kg/ha; Đất bạc màu N 100-110 kg/ha; P2O5 60-70 kg/ha; K2O 60-70 kg/ha.

Cho vùng đồng bằng sông Cửu Long: Phù sa sông Cửu Long vụ đông xuân N 110-120 kg/ha; P2O5 30-40 kg/ha; K2O 30-40 kg/ha; Đất phèn nhẹ vụ đông xuân N 90-100 kg/ha; P2O5 40-50 kg/ha; K2O 10-20 kg/ha; Đất xám vụ đông xuân N 100-110 kg/ha; P2O5 40-50 kg/ha; K2O 70-80 kg. Muốn có bội thu năng suất thêm 1 tấn/ha (đối với giống lúa lai và giống có năng suất cao cần phải bón thêm 20 kg P2O5 và 30 kg. Đạm bón theo thang màu lá lúa. Lượng bón thực tế có thể dao động ± 10-20% tổng số đạm bón và ngày bón phụ thuộc trạng thái đạm của cây ở từng giai đoạn phát triển).

them-mot-goc-nhin-khac-ve-thuc-pham-huu-co

Thêm một góc nhìn khác về thực phẩm hữu cơ

Thêm một góc nhìn khác về thực phẩm hữu cơ. Mục tiêu chỉ đơn giản là củng cố niềm tin vào thị trường thực phẩm hữu cơ đang phát triển nhanh nhưng bị phân mảnh.

them-mot-goc-nhin-khac-ve-thuc-pham-huu-co

Chợ hóa chất hữu cơ

Yếu tố quan trọng quyết định liệu thứ gì đó có đủ tiêu chuẩn là hữu cơ hay không lại là một thứ khá trần trụi có tên “phương pháp sản xuất”. Đối với cây trồng, nguồn gốc của hạt giống là chìa khóa – nó phải được trồng theo phương pháp hữu cơ và không thể là sản phẩm của kỹ thuật di truyền (GMO hoặc chỉnh sửa gen).

Có một cách hiểu phổ biến rằng, thực phẩm hữu cơ được trồng mà không có hóa chất – và các cửa hàng kinh doanh mặt hàng này đã góp phần làm nên ấn tượng này. Thực tế là có tới trên 100 loại phân bón và nguyên liệu đầu vào (thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng hoặc thuốc diệt nấm) được cho phép trong canh tác hữu cơ ở cả châu Âu lẫn Mỹ.

Các quy định hữu cơ được thiết kế để thúc đẩy việc sử dụng hóa chất tự nhiên thay vì các quy định tổng hợp. Nhưng do nhiều loại hóa chất tự nhiên không kiểm soát tốt sâu bệnh và mặc dù sự vắng mặt của thuốc trừ sâu tổng hợp thường được trích dẫn để ủng hộ các chất hữu cơ. Trên thực tế nông dân sản xuất hữu cơ đã được Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) chấp thuận cho sử dụng hàng chục loại hóa chất tổng hợp, từ vacxin cho động vật đến chất dẫn dụ pheromone côn trùng, hoặc cho dùng thuốc trừ sâu không tổng hợp (có thể kém hiệu quả hơn thuốc trừ sâu tổng hợp) để triển khai ở cấp độ cao hơn so với canh tác phi hữu cơ.

Nông nghiệp hữu cơ có bền vững hơn không?

Quan điểm này đối với đa số người ủng hộ thực phẩm “tự nhiên” là thực phẩm hữu cơ rõ ràng là tốt hơn cho môi trường so với thực phẩm thông thường. Tuy nhiên ngay cả điều này cũng là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi.

Ví dụ đánh giá về năng suất cây trồng, rõ ràng khi nền nông nghiệp và công nghệ phát triển, có thể làm ra nhiều lương thực hơn trên một diện tích đất ít hơn. Đó là một chiến thắng cho môi trường. Nhưng vì các quy tắc quản lý nông nghiệp hữu cơ ngăn cản việc sử dụng một số phương pháp hiện đại, nên cây trồng hữu cơ không thể phát triển hiệu quả và đòi hỏi nhiều đất canh tác hơn để sản xuất một lượng lương thực nhất định. Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature, năng suất hữu cơ thấp hơn 34% so với canh tác thông thường.

Nhà sinh vật học cây trồng Steve Savage đã xem xét tác động của việc chuyển đổi toàn bộ sản lượng nông nghiệp của Mỹ sang hữu cơ. Các phân tích, xuất bản bởi Dự án Genetic Literacy phát hiện ra rằng, để bù đắp cho hiệu quả sản xuất hữu cơ năng suất thấp hơn sẽ đòi hỏi việc phải trồng nhiều hơn thêm tới 100 triệu mẫu – một diện tích canh tác lớn hơn cả bang California…

Biến đổi khí hậu thì sao?

Nông nghiệp hữu cơ đặc biệt có vấn đề khi đề cập đến vấn đề biến đổi khí hậu. Một nghiên cứu gần đây đã “đóng sầm cánh cửa hữu cơ” vì thiếu vắng sự đổi mới liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu, cũng như các công ty thực phẩm hữu cơ luôn chống lại việc áp dụng các công nghệ mới có thể cắt giảm khí thải độc hại.

Nhiều người ủng hộ hữu cơ, bao gồm cả các chính trị gia ở Liên minh Châu Âu, quảng bá thứ gọi là “Thỏa thuận Xanh từ nông trại đến bàn ăn (F2F)”, nhằm mục đích chuyển phần lớn đất nông nghiệp châu Âu sang sản xuất hữu cơ trong thập kỷ tới. Tuy nhiên các nhà khoa học độc lập cho rằng, đó sẽ là một thảm họa khi dẫn chứng một nghiên cứu vào năm 2019 đánh giá tác động tiềm tàng đối với Xứ Wales một khi đáp ứng các mục tiêu của Thỏa thuận Xanh F2F.

Cụ thể là muốn đẩy năng suất hữu cơ tăng lên 40% thì cũng tăng lượng phát thải khí nhà kính lên tới 58%. Theo đó, thay vì sản xuất đủ để nuôi dân số của mình, các nước châu Âu cần phải bắt đầu nhập khẩu lương thực. Điều này đồng nghĩa với việc tăng sản lượng lương thực ở các nước khác – một kết quả có thể dẫn đến việc chặt phá rừng nhiệt đới trên khắp thế giới.

Chống lại các thành kiến công nghệ

Thị trường thực phẩm hữu cơ vẫn bị thổi phồng và được cho là chưa trung thực. Ảnh: Getty

Rào cản cuối cùng đối với thực phẩm hữu cơ là nó làm gia tăng lo ngại về sự an toàn của các sinh vật biến đổi gen. Tuy nhiên, hơn 90% ngô, bông và đậu nành của Mỹ là cây trồng biến đổi gen. Hơn một nửa diện tích trồng trọt GMO hiện đang được sản xuất ở các nước đang phát triển. Không có nghiên cứu đáng tin cậy nào cho thấy, bất kỳ rủi ro nào từ việc ăn thực phẩm GMO, bởi chúng đã được bán ở khắp nước Mỹ từ năm 1994.

Tính đến nay đã có hơn 150 người đoạt giải thưởng Nobel danh giá đều đã chứng thực sự an toàn của thực phẩm GMO bởi kỹ thuật di truyền giúp bảo vệ môi trường. Ngoài ra, các công cụ chỉnh sửa gen như CRISPR còn có thể tăng cường khả năng kháng sâu bệnh, tăng năng suất cây trồng và giảm lượng khí thải liên quan đến canh tác.

Thực tế thì cây trồng biến đổi gen là chìa khóa để thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững. Những người chỉ trích thực phẩm GMO bỏ qua rằng, các biến thể biến đổi gen đã cứu nhiều loại cây trồng thực phẩm ở Hawaii (đu đủ), Bangladesh (cà tím) và nhiều loại cây trồng khác đòi hỏi khả năng kháng bệnh và chống chịu sâu bệnh.

Gần đây một loại khoai tây mới được lai tạo để sản xuất tại châu Phi đã không cần tới thuốc diệt nấm để chống lại bệnh bạc lá, có thể phá hủy tới 60% mùa ở một quốc gia như Uganda. Những nỗ lực nhằm làm giảm giá trị của các loại thực phẩm biến đổi gen năng suất cao, kháng bệnh như vậy đã cản trở sự tiến bộ và thịnh vượng cho nông dân châu Phi và châu Á

da-pumice-co-vai-tro-trong-cai-tao-dat-trong

Đá Pumice có vai trò trong cải tạo đất trồng

Đá Pumice có vai trò trong cải tạo đất trồng. Và để tận dụng, khai thác tối đa tiềm năm của đất cho phát triển nông nghiệp, nhà vườn cần hướng đến một giải pháp tối ưu, bền vững chính là cải tạo đất với đá Pumice. Vậy vai trò của đá Pumice trong cải tạo đất trồng là gì? Cùng tìm hiểu trong bài viết nhé.

da-pumice-co-vai-tro-trong-cai-tao-dat-trong

Đá Pumice giúp hỗ trợ quá trình trao đổi khí hiệu quả

Nhắc đến vai trò của đá Pumice trong cải tạo đất trồng thì trước tiên, ta cần đặc biệt nhấn mạnh đến hiệu quả quá trình trao đổi khí. Trao đổi khí luôn là quy trình quan trọng và cần thiết đối với đất và cây trồng. Và chắc chắn rồi, đối với bất kỳ một mảnh đất canh tác nào cũng thế thôi, công tác này cần phải đảm báo đáp ứng một cách tốt nhất.

Khi sử dụng đá Pumice cải tạo đất, đá bọt lúi lứa sẽ hỗ trợ và thúc đẩy trao đổi khí được diễn ra thuận lợi và mạnh mẽ. Cụ thể hơn là khí carbon dioxide và khí oxy sẽ tự do trao đổi bên trong vùng rễ cây.

Đá Pumice giúp giữ lại dưỡng chất trong cải tạo đất trồng

Một trong những ưu điểm nổi trội của đá bọt núi lửa đấy chính là khả năng giữ lại dưỡng chất bên trong đất trồng. Không chỉ là một giá thể phổ biến, được nhà vườn đánh giá cao mà đá bọt còn mang đến hiệu quả giữ lại một lượng nước giàu dinh dưỡng.

Khi sử dụng đá Pumice cải tạo đất, bà con hoàn toàn an tâm rằng ta có thể giữ các chất này ở lại trong một thời gian dài. Từ đây, hệ thống rễ cây luôn luôn được cung cấp lượng có sẵn giữa những chu kỳ tưới. Do vậy mà giảm bớt thời gian và công sức chăm sóc cho nhà vườn.

Đá Pumice hỗ trợ giúp cân bằng đất và cây trồng

Nói đến vai trò của đá Pumice trong cải tạo đất trồng nhất định phải kể tên hiệu quả này, đấy là hỗ trợ giúp cân bằng đất và cây. Không chỉ mang đến khả năng thoát nước với tốc độ nhanh chóng, ấn tượng, độ giữ ẩm tuyệt vời mà đá còn thúc đẩy gia tăng sự trao đổi khí quan trọng và thiết yếu. Tất cả chúng đều vô cùng cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây.

Đất sống thì cây mới khỏe. Một nền đất được cải tạo tốt, giàu dưỡng chất, cân bằng chính là nền tảng cho cây tăng trưởng xanh tốt, khỏe mạnh.

Đá Pumice gia tăng tốc độ và khả năng thoát nước cho đất trồng

da-pumice-co-vai-tro-trong-cai-tao-dat-trong

Trong quá trình cải tạo đất, nhà vườn cần đặc biệt quan tâm đến tốc độ và khả năng thoát nước cho đất trồng. Và với vai trò của đá Pumice trong cải tạo đất trồng này thì không nhiều giá thể có khả năng làm được. Tốc độ thoát nước của đá bọt núi lửa được đánh giá cao vô cùng. Từ đây, không khí được cho phép di chuyển vào vùng rễ nhưng vẫn đảm bảo là giữ được vừa đủ độ ẩm, giàu dưỡng chất cho đất trồng.

Vai trò này của đá Pumice sẽ được thực hiện một cách đều đặn giữa những chu kỳ tưới. Điều này tạo điều kiện, thúc đẩy cho cây sinh trưởng và triển tốt nhất.

Đá Pumice là chất cải tạo đất tự nhiên, an toàn và thân thiện với môi trường

Trên thị trường hiện nay, nhà vườn không khó để đi tìm một chất cải tạo đất. Tuy nhiên, đâu mới thực sự là chất cải tạo đất hiệu quả và chất lượng? Đặc biệt hơn, đâu mới là sản phẩm an toàn cho sức khỏe, thân thiện với môi trường? Bảo vệ môi trường và sức khỏe cho mọi người luôn là điều kiện, yếu tố hàng đầu trong bất kể một ngành kinh tế nào và nông nghiệp cũng thế.

anh-huong-cua-phan-bon-doi-voi-cay-trong

Ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng

Ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng. Sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây trồng chịu tác động của rất nhiều yếu tố như đất đai, thời tiết, nước tưới, sâu bệnh, giống,… thì phân bón là một trong những yếu tố quan trọng nhất và mang tính quyết định. Để đảm bảo cây trồng sinh trưởng, phát triển xanh tốt khỏe mạnh cần sử dụng phân bón hợp lý, đầy đủ  giúp cung cấp đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cho cây. Dưới đây là một số ảnh hưởng phân bón đến sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây.

anh-huong-cua-phan-bon-doi-voi-cay-trong

Ảnh hưởng của phân bón

 Phân bón với sự sinh trưởng của cây trồng

Phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng của cây trồng. Sử dụng phân bón cân đối hợp lý sẽ thúc đẩy các quá trình sinh trưởng của cây, đẻ nhánh, cành lá phát triển, thúc đẩy cây ra hoa nhiều và đồng loạt, tỷ lệ đậu quả cao. Tạo điều kiện rễ phát triển, rễ ăn sâu, rộng giúp hạn chế đổ ngã. Tăng sức đề kháng và khả năng chống chịu của cây trồng.

Ngoài việc cung cấp các dưỡng chất cần thiết, phân bón còn tác động đến toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp, thúc đẩy các quá trình như phân hủy, chuyển hóa các chất….tăng khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng, phân giải các chất khó hấp thu thành các chất dễ hấp thu, tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển khỏe mạnh.

Nếu thiếu hụt phân bón cây trồng sẽ không phát triển hay phát triển kém, cây còi cọc, khả năng đẻ nhánh thấp, cành lá ra ít, lá nhỏ, lá vàng, không ra hoa hoặc ra hoa ít, tỷ lệ đậu quả thấp, bộ rễ kém phát triển, dễ bị sâu bệnh tấn công, khả năng chống chịu kém đối với các yếu tố bất lợi.

Phân bón với năng suất cây trồng

anh-huong-cua-phan-bon-doi-voi-cay-trong

Một cây trồng sinh trưởng, phát triển khỏe mạnh tạo tiền đề cho một vụ mùa năng suất cao. Nên việc sử dụng phân bón đầy đủ cân đối để đạt năng suất cao nhất là rất quan trọng. Tuy nhiên, phân bón với cây trồng chỉ cần vừa đủ không được dư thừa hay thiếu, vậy nên cần nắm rõ nhu cầu của dinh dưỡng của từng giống cây, từng loại cây trồng, nếu thừa hay thiếu đều có tác dụng ngược lại, cây trồng kém phát triển, không ra hoa hoặc ra hoa ít, tỷ lệ đậu quả thấp, hiện tượng rụng hoa, trái non sinh lý nhiều, xảy ra hiện tượng năm được năm mất mùa giảm sút năng suất một cách nghiêm trọng.

Trong tất cả các điều kiện canh tác, khi tăng lượng phân bón sẽ làm nâng cao năng suất cây trồng những năng suất cây trồng tăng lên không tỉ lệ thuận với lương phân bón sử dụng tăng lên mà sẽ có xu hướng giảm sút. Lượng phân bón tăng lên thì năng suất sẽ tăng đến một giới hạn nhất định rồi sẽ không tăng nữa mà còn bị giảm xuống do dư thừa dinh dưỡng.

Phân bón ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng, quan trọng nhất là giai đoạn trước ra hoa và nuôi quả/trái. Sử dụng phân bón vào giai đoạn trước ra hoa là thời kỳ quyết định đến số lượng và chất lượng ra hoa, việc bón phân để cung cấp đủ các dưỡng chất vào giai đoạn này sẽ giúp cây ra hoa to, hoa nhiều, đồng loạt, khả năng đậu quả cao. Giai đoan cây nuôi trái/quả việc bón phân cung cấp đủ các dưỡng chất cần thiết sẽ thúc đẩy quá trình tích lũy các chất hữu cơ (tinh bột, protein, đường,…) giúp trái/quả to, nặng ký, trái đồng đều, kể cả với những loại giống tốt cũng chỉ đạt năng suất cao khi sử dụng phân bón cân đối, hợp lý.

Vai Trò Của Vi Lượng Đối Với Cây Trồng

Vai trò của một số lượng phân loại 
   
Nhìn chung, các tiền tố đa lượng góp phần vào công việc tạo ra, hoạt động hóa enzym. Meta back is the quality of effect cùng quan trọng không chỉ ở cây trồng mà còn các sinh vật khác. Với trồng cây, vi lượng sẽ thúc đẩy sự ổn định của cây phát triển. Giúp cây khỏe, chống sâu bệnh tốt. Hoa dung, hướng trái cao hơn về chất lượng điện. Bên cạnh đó có lợi cho môi trường xung quanh, đặc biệt là môi trường đất. Nhưng với điều là phải dùng đến lý do phân vùng, chứ không phải là dùng lung tung. Sau đây là một số trò chơi của vi lượng cần thiết cho cây. 
Một số tiền tố cần thiết
cho cây

Vi lượng (Fe)
   
Với trò chơi là hoạt động hóa các liên kết đến quá trình sinh hóa cây. Sắt góp phần thành chất diệp lục, quá trình hợp tác và hô hấp cũng diễn ra mạnh mẽ hơn. Vì vậy mà lá cây không bị vàng sớm, từ đó phát triển được tốt hơn. 

Cần phải chú ý khi trồng cây trong môi trường đất có độ pH cao, nhiều lân cân, chủ sở hữu chất lượng trong đất thấp. Có thể sử dụng phân chuồng, phân vi lượng để cung cấp cho đất, cho cây.

Vi lượng (Zn)
   
Kẽm là một tiền tố có ảnh hưởng đến năng lượng cây. Với vai trò thúc đẩy quá trình tổng hợp các chất dinh dưỡng ở cây. Ngoài ra giúp cây tăng thêm khả năng chống chịu, hấp thụ sương, lân. Thiếu lá và nhỏ, mất màu xanh nhưng vẫn còn màu xanh. Thường mômen, được biến đổi dạng và chuyển sang màu trắng dần dần. 

Nguyên nhân là công việc không hợp lý parse. Nhà cần bắt cây có sử dụng cú pháp phân tích đồng. Fing use a chảo sẽ loại bỏ cây, ảnh hưởng nghiêm trọng của môi trường. 

Vi lượng Mangan (Mn)
  
Mangan đóng vai trò giúp nảy mầm nhanh, phát triển ổn định và chắc chắn, tăng khả năng ra hoa, kết trái. Thiếu mangan cần lưu ý ở môi trường kiềm, đất chua, đất ngập nước, nhiệt độ thấp. Khi phát hiện ở gân lá dần dần chuyển sang màu vàng, lá cũng nhạt đi và có các đốm vàng thì nên sử dụng phân tích có chứa lượng mangan để bổ sung cho cây kịp thời.

Vi lượng Molypden (Mo)  
Molypden góp phần thúc đẩy quá trình sử dụng 


đạm của cây, quá trình chuyển hóa lân từ vô cơ sang chủ mà cây hấp thụ được, giúp ích cho vi khuẩn cố định nốt cây họ đậu. Khi thiếu Mo thì lá màu xanh nhạt, vàng dần đến cam, có đốm đen, mặt dưới nhựa. Show missing Mo thường với chua môi trường. Có thể sử dụng cơ sở hữu ích để cải thiện. 

 for tree cũng nên kết hợp các phân loại khác nhau. Mục đích là để chúng ta hòa hợp với nhau, không xảy ra tình trạng thiếu hay thừa. Khi thiếu thì cây phát triển kém, năng suất thấp, thiệt hại về kinh tế. Khi thừa vi lượng có thể tích kim loại lại trong nông sản sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng. Cân bằng phân tích cú pháp khác sẽ làm hại môi trường, đặc biệt là đất và nước.

Vi phân tích
   
Có ba cách là đăng nhập vào đất,
ngâm hạt, củ vào dung dịch phân tích trước khi gieo, phun trực tiếp lên cây. Khác nhau trạng thái tùy chọn từng loại cây mà có cách sử dụng riêng. Nhà thông thường sử dụng phun trực tiếp lên lá để cây có thể hấp thụ nhanh nhất. 

Sử dụng lượng phân tích hợp lý, không nên sử dụng quá nhiều sẽ không thể trả lại giá trị mà có thể gây hại cho cây trồng, môi trường xung quanh. Không phân biệt phân loại chỉ lượng mà bất kỳ phân loại nào cũng cần phải có ý thức.

Tầm Quan Trọng Của Vi Lượng Đối Với Cây Trồng

Vai trò quan trọng của các nguyên tốvi lượng đối với cây trồng.

Các nguyên tố vi lượng (Zn, Cu, Fe, Mn, B, Mo) là các nguyên tố chỉ chiếm 10-4 đến 10-5 so với khối lượng khô, cây trồng có nhu cầu bón không nhiều, song trong hoạt động sống của cây các nguyên tố này có vai trò xác định không thể thiếu và không thể thay thế bằng các nguyên tố khác được.
Trước đây vai trò của các nguyên tố vi lượng ít được chú ý vì nhu cầu vi lượng thấp lại thường được đưa vào cùng với phân chuồng và các loại phân đa lượng khác.
Sau này các loại phân đạm, lân, kali đơn chất, đậm đặc và tinh khiết được bón ngày càng nhiều (phân urê chỉ có đạm, phân DAP chỉ có N và P). Bón nhiều phân thì năng suất cao song cũng khai thác triệt để các nguyên tố vi lượng trong đất mà nguồn cung cấp lại không có. Dần dần qua thực tiễn sản xuất người ta nhận thức ngày càng rõ hơn vai trò không thể thiếu được của các nguyên tố vi lượng.
Thiếu nguyên tố vi lượng thì cây mắc bệnh và phát triển không bình thường, song nhiều nguyên tố vi lượng lại là các kim loại nặng nếu thừa thì độc cho cả cây và người tiêu thụ sản phẩm.
Cây thiếu vi lượng là do đất thiếu vi lượng (thiếu tuyệt đối). Cây thiếu vi lượng còn là do nhiều nguyên nhân khác như bón nhiều vôi, pH tăng làm nhiều nguyên tố vi lượng (Fe, Mn, Cu, Zn) bị cố định lại cây không đồng hóa được. Cây bị đói vi lượng còn do đối kháng về mặt dinh dưỡng như bón nhiều kali cây hút B ít đi gây hiện tượng thiếu Bo làm cây mắc bệnh (thối nõn dứa do thiếu B).
Việc quan sát cây trồng để xác định thiếu dinh dưỡng rất khó vì các triệu chứng trên lá thường không đặc trưng. Thí dụ rất khó phân biệt triệu chứng thiếu đạm, thiếu lưu huỳnh, thiếu sắt, thiếu molypden nếu chỉ quan sát trên bộ lá.
Muốn đánh giá việc thiếu vi lượng nếu không qua phân tích đất và lá thì phải dựa đầy đủ vào quá trình hình thành đất, nghiên cứu bản đồ địa chất, lịch sử sử dụng đất đai (chế độ canh tác, chế độ bón phân, loại phân đã sử dụng, mức độ thâm canh, tình hình sử dụng vôi và việc bón phân hữu cơ).
Phân vi lượng thường được cung cấp qua lá để tránh bị đất cố định. Phun qua lá việc cung cấp vi lượng vừa kịp thời vừa trực tiếp, lại tiết kiệm hơn.

Vai trò của Kẽm (Zn)

Zn cần cho nhiều chức năng hóa sinh cơ bản trong cây như: tổng hợp xytôchrom và nuclêôtit, trao đổi auxin, tạo diệp lục, hoạt hóa men và duy trì độ bền vững của màng tế bào.
Zn tích lũy trong rễ song lại có thể di chuyển từ rễ đến các bộ phận đang phát triển khác trong cây. Trong tán lá cây Zn lại di chuyển rất ít, đặc biệt là khi cây thiếu đạm. Triệu chứng thiếu Zn thường thấy trên lá non và lá bánh tẻ.
Rất nhiều cây trồng có phản ứng tích cực với Zn, nhất là trên đất đã liên tục được bón nhiều lân.
Triệu chứng thiếu kẽm (Zn)
- Triệu chứng thiếu chủ yếu xuất hiện trên các lá đã trưởng thành hoàn toàn thứ hai và thứ ba tính từ ngọn cây.
- Ở ngô, từ một sọc vàng nhạt đến một dải các mô màu trắng hoặc vàng với các gân màu đỏ tía giữa gân giữa và các mép lá, xảy ra chủ yếu ở phần thấp hơn của lá.
- Ở lúa mì, một dải theo chiều dọc các mô lá, màu trắng hoặc vàng, tiếp theo là đốm vàng úa giữa các gân lá và các tổn thương hoại tử màu trắng đến nâu ở giữa phiến lá, sự sụp đổ cuối cùng của các lá bị ảnh hưởng ở gần phía giữa.
- Ở lúa, sau cấy 15-20 ngày, các đốm nhỏ rải rác màu vàng nhạt xuất hiện trên các lá già hơn sau đó phát triển rộng ra, hợp lại và trở thành màu sẫm, toàn bộ lá trở nên màu nâu dỉ và bị khô trong vòng một tháng.
- Ở chanh cam, úa vàng giữa các gân lá không đều, các lá cuối cùng trở nên nhỏ và hẹp, sự hình thành nụ quả bị giảm mạnh, cây có cành bị chết.

Vai trò của Đồng (Cu)
Cu cần cho việc tổng hợp linhin (và do vậy đóng góp vào việc bảo vệ màng tế bào), có tác dụng chống đổ. Cu xúc tiến việc oxy hóa axit ascobic (Vitamin C), hoạt hóa các men oxidaza, phenolaza và plastoxyanin. Cu là tác nhân điều chỉnh trong các phản ứng men (tăng cường, ổn định và hạn chế) và là chất xúc tác các phản ứng oxy hóa-khử.
Đồng đóng vai trò then chốt trong các quá trình sau đây:
- Trao đổi đạm, prôtêin và hoccmôn.
- Quang hợp và hô hấp.
- Hình thành hạt phấn và thụ tinh.
Đồng thường được cung cấp dưới dạng thuốc trừ nấm. Nếu đã dùng thuốc bảo vệ thực vật có Cu thường không phải lo cây thiếu Cu.
Trồng cây trên đất than bùn, đất lầy thụt cây thường phản ứng tốt với việc bón Cu.
Triệu chứng thiếu đồng (Cu):
- Ở cây ngũ cốc, vàng và quăn phiến lá, sản lượng bông hạn chế và hình thể hạt kém, đẻ nhánh không rõ.
- Ở chanh cam, cây mới mọc bị chết, quả có những đốm nâu. 

Vai trò của Sắt (Fe)

Fe cần cho việc vận chuyển êlectron trong quá trình quang hợp và các phản ứng oxy hóa-khử trong tế bào. Fe nằm trong thành phần của Fe-porphyrin và Ferrodoxin, rất cần cho pha sáng của quá trình quang hợp... Fe hoạt hóa nhiều enzim như catalaza, sucxinic dehydrôgenaz avà aconitaza.
Thiếu Fe việc hút K bị hạn chế. Ở các chân đất kiềm, đất hình thành trên đá vôi, đất đồi quá trình oxy hóa mạnh cây thường hay thiếu Fe.

Triệu chứng thiếu sắt (Fe):
- Úa vàng giữa các gân lá điển hình, các lá non nhất bị ảnh hưởng trước hết, đỉnh và mép lá giữ màu xanh lâu nhất.
- Trong trường hợp thiếu nặng, toàn bộ lá, gân và vùng giữa các gân lá chuyển màu vàng và cuối cùng có thể trở thành trắng nhợt.

Vai trò của Mangan (Mn)
Mangan tham gia các phản ứng oxyhóa-khử trong hệ thống vận chuyển êlectron và thải O2 trong quá trình quang hợp. Mn cũng hoạt hóa nhiều enzim như ôxidaza, perôxidaza, dehydrôgenaza, decarbôxilaza và kinaza.
Mangan cần thiết cho các quá trình sau đây:
Hình thành và ổn định lục lạp.
Tổng hợp prôtêin.
Khử nitrat thành NH4 trong tế bào.
Tham gia chu trình axit tricacbôxylic (TCA).
Mn++ xúc tác việc hình thành axit phôtphatidic trong việc tổng hợp phôtpholipit để xây dựng màng tế bào. Mn làm dịu độc Fe đối với cây.
Nhu cầu mangan của cây thường xuất hiện ở đất có pH > 5,8. ở đất chua hơn thường đất đã thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu Mn của cây (Katalymov M. V., 1965).

Triệu chứng thiếu mangan (Mn):
- Úa vàng giữa các gân của lá non, đặc trưng bởi sự xuất hiện các đốm úa vàng và hoại tử ở vùng giữa các gân lá.

- Xuất hiện những vùng hơi xám gần gốc các lá non hơn và trở thành vàng nhạt đến vàng da cam.
- Triệu chứng thiếu được biết phổ biến ở yến mạch là "vệt xám", ở đậu Hà Lan là "đốm lầy", ở mía là "bệnh vân sọc".

Vai trò của Bo (B)
Bo có vai trò hàng đầu trong việc xây dựng cấu trúc và tạo độ bền chắc cho màng nguyên sinh chất. Bo cần cho việc trao đối hydratcacbon, vận chuyển đường, tổng hợp nuclêôtit và linhin hóa thành tế bào. Thiếu B đỉnh sinh trưởng chết, nên giai đoạn phân hóa bông lúa mà thiếu B thì lúa không có bông. Thiếu B làm giảm sức sống của hạt phấn.
B không có mặt trong các men và không ảnh hưởng đến hoạt động men.
Việc định lượng B bón cần phải căn cứ vào đặc điểm sinh học của cây và tính chất đất. Ngưỡng thiếu và ngưỡng độc B của các loại cây mẫn cảm với B như: dưa chuột, đậu đũa, chanh, nho rất gần nhau, nên không cẩn thận bón thừa B sẽ có tác dụng tiêu cực.


Triệu chứng thiếu bo (B):
- Cây đang mọc bị chết (đầu chồi).
- Lá có kết cấu dày, đôi lúc cong lên và trở nên giòn.
- Hoa không hình thành và dễ sinh trưởng còi cọc.
- "Ruột nâu" ở cây có củ đặc trưng bởi những đốm thẫm màu trên phần dày nhất của rễ hoặc nứt nẻ ở phía giữa.
- Các loại quả như táo phát triển triệu chứng "xốp bên trong và bên ngoài".

Vai trò của môlypden (Mo)
Trong cây Mo tập trung trong men khử nitrat, nên cây thiếu Mo thì quá trình khử nitrat thành NH4+ trong cây không được thực hiện, nên cây đồng hóa NO3- mà vẫn thiếu protit và tích lũy NO3-.
Môlypden do vậy rất cần cho các vi sinh vật cố định N tự do cũng như vi sinh vật cố định N cộng sinh.
Cũng chính vì vậy cây bộ đậu cần được cung cấp đủ Mo. Thiếu Mo cũng có triệu chứng như thiếu N.
Việc thiếu môlypden thường xảy ra trên đất chua. Khi tăng mỗi đơn vị pH thì lượng ion MoO¬4mo= có thể tăng 10 lần nếu đất có Mo.
Bón vôi làm tăng Mo dễ tiêu vì tăng pH. Các loại phân gây chua lại làm giảm Mo dễ tiêu. Do vậy bón nhiều và bón liên tục các loại phân gây chua sẽ mở rộng việc thiếu Mo.
Cây chỉ cần rất ít Mo (vài mg/ha) và thường dự trữ Mo trong hạt đã đủ phòng chống việc thiếu Mo cho cây trồng sau này. Weir và Hudson (1966) đã nhận xét: hầu như không thấy ngô, trồng ngay cả trên đất nghèo Mo, có triệu chứng thiếu Mo khi hàm lượng Mo trong hạt ngô cao hơn 0,08 mg/kg hạt, nhưng lại có triệu chứng thiếu Mo nếu hàm lượng Mo trong hạt xuống dưới 0,02 mg/kg hạt.


Triệu chứng thiếu môlypden (Mo):
- Đốm úa vàng giữa các gân của những lá dưới, tiếp đó là hoại tử (chết thối) mép lá và lá bị gập nếp lại.
- Ở xúp lơ, các mô lá bị héo tàn, chỉ còn lại gân giữa của lá và một vài mẩu phiến lá nhỏ.