phan-bon-giup-tang-san-luong-co-thuc-su-hieu-qua

Phân bón giúp tăng sản lượng có thực sự hiệu quả

Phân bón giúp tăng sản lượng có thực sự hiệu quả. Các nhà nghiên cứu Đài Loan đã phát triển thành công một loại phân bón vi sinh mới có khả năng tăng sản lượng cây trồng lên tới 440%.

phan-bon-giup-tang-san-luong-co-thuc-su-hieu-qua

Phân bón giúp tăng sản lượng

Hội đồng Nông nghiệp Đài Loan dẫn lời giám đốc Trạm Khuyến nông và Nghiên cứu Nông nghiệp Cao Hùng Tai Shun-fa chia sẻ mộ cách đầy tiếc nuối rằng: Trong vài năm qua nếu tận dụng được nguồn phế phẩm này để làm phân bón vi sinh đã có thể tạo tạo ra giá trị hàng trăm triệu USD, đồng thời có thêm một lựa chọn mới trong bối cảnh nguồn cung phân bón ngày càng thắt chặt.

Nhà khoa học Chen Tai-yuan cho biết, họ đã tiến hành thu thập các vi sinh vật từ các trang trại hữu cơ trên khắp hai huyện Cao Hùng và Bình Đông để nghiên cứu. Kết quả, từ hơn 30 loại thu thập được, các nhà nghiên cứu đã xác định được một loại vi sinh vật trên cánh đồng lúa ở thị trấn Wandan của huyện Bình Đông cho thấy hứa hẹn trong việc thúc đẩy tăng trưởng năng suất cây trồng.

Ông Chen nói, vi khuẩn Bacillus velezensis KHH13 hoạt động bằng cách phân giải các khoáng chất như phốt pho và kali, làm cho chúng dễ tiếp cận hơn với cây trồng. Ngoài ra, vi sinh vật này cũng có thể tạo ra axit indole-3-acetic, hoặc IAA- được biết đến như một loại hormone tăng trưởng thực vật và các enzyme quan trọng đối với sự phát triển của cây trồng.

“Trong các thử nghiệm thực địa, vi khuẩn Bacillus velezensis KHH13 đã được chứng minh có khả năng làm gia tăng đáng kể trọng lượng tịnh của nhiều loại rau xanh. Ví dụ, trọng lượng của bắp cải trắng đã tăng 80%, trong khi cải dầu và cần tây tăng đến 190%, còn rau diếp xoăn tăng tới 440%”, ông Chen nói.  Ngoài ra KHH13 cũng có thể tạo ra các hợp chất để cạnh tranh với các sinh vật gây bệnh, cải thiện sức khỏe của đất và bảo vệ cây trồng khỏi bị hư hại bởi thời tiết.

Ông Tai Shun-fa cho biết thêm, loại phân bón vi sinh này đã được cấp bằng sáng chế ở Đài Loan và được cấp phép sử dụng không độc quyền.

Hiện thị trường địa phương đã bắt đầu bán loại phân bón này với tên gọi Wandan Microiotics Fertilizer. Nó cũng nằm trong chương trình trợ giá phân bón hữu cơ của Cơ quan Nông nghiệp và Thực phẩm Đài Loan.

quy-trinh-canh-tac-lua-nep-hieu-qua-cua-nguoi-nong-dan

Quy trình canh tác lúa nếp hiệu quả của người nông dân

Quy trình canh tác lúa nếp hiệu quả của người nông dân. Hiện nay lúa nếp được canh tác nhiều nơi ở ĐBSCL với khoảng 198 ngàn ha/vụ (chiếm 13% diện tích gieo sạ vùng ĐBSCL theo số iệu vụ đông xuân 2020 – 2021).

quy-trinh-canh-tac-lua-nep-hieu-qua-cua-nguoi-nong-dan

Trong đó có 3 vùng tập trung nhất là Phú Tân (An Giang) với diện tích khoảng 10.000 ha (chủ yếu giống nếp CK92); Chợ Gạo (Tiền Giang) khoảng 6.000 ha (chủ yếu Nếp Bè Tiền Giang); Thạnh Hóa (Thủ Thừa, Long An, chủ yếu giống nếp IR4625) với khoảng 30.000 ha. Điểm chung nhất của 3 vùng lúa nếp này là đều sử dụng giống lúa ngắn ngày, 95 – 100 ngày và có thể trồng được 3 vụ/năm.

Về mặt khoa học, thời vụ, kỹ thuật canh tác lúa nếp không có nhiều khác biệt so với các giống lúa tẻ. Điều khác biệt rõ nhất có thể kể đến là các giống nếp đều mẫn cảm với sâu rầy, nhất là rầy nâu, nhện gié và đạo ôn. Bởi vậy, bà con cần tuân thủ xuống giống theo nguyên tắc đồng loạt, tập trung, né rầy và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phổ biến như “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”.

Ngoài ra, so với một số giống lúa tẻ, lúa nếp có phần dài ngày và yếu rạ hơn. Vì vậy, quá trình canh tác qua nhiều năm, nông dân cũng đúc rút kinh nghiệm bón phân cân đối, không bón thừa đạm, nhất là bón đúng thời điểm cây lúa cần.

Thực tế, trong điều kiện biến đổi khí hậu, hạn mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, sâu bệnh hại ngày một tác động mạnh hơn đến lúa nếp. Chăm sóc cây lúa nếp khỏe ngay từ đầu vụ với quy trình bón phân thông minh sẽ giúp bà con đạt được “hiệu quả kép” về năng suất, chất lượng, giúp cân bằng môi trường đất nước, hạn chế lượng thuốc BVTV trên đồng ruộng.

NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI CANH TÁC LÚA NẾP

Vùng đất trồng nếp phải chuyên canh, làm cùng một giống để tránh lẫn giống của vụ trước sang vụ sau.

Sử dụng giống lúa nếp có độ thuần cao, tiêu chuẩn giống xác nhận 1. Làm đất kỹ, có mặt bằng tốt và đánh rãnh nước sâu 20 – 30 cm, ngang 20 – 30 cm; cách 6 – 8 m có 1 rảnh để xổ phèn, xổ mặn, tháo nước khi cần.

Sạ cấy: Có thể sạ lan 80 kg/ha hoặc cấy 50 – 60 kg/ha, gần đây có máy sạ cụm (sạ khóm) tiết kiệm giống chỉ cần 50 – 60 kg/ha.

Thời vụ gieo sạ: Tuân thủ nghiêm nhặt theo lịch gieo sạ đồng loạt, tập trung né rầy và theo con nước của ngành nông nghiệp khuyến cáo.

Cây lúa nếp với đặc tính yếu, nên nếu bón thừa phân đạm, cây sẽ dễ bị nhiễm sâu bệnh, dễ đổ ngã, gây thất thoát năng suất, ảnh hưởng đến chất lượng nếp, và gia tăng chi phí đầu vào. Đồng thời, trước khi thu hoạch không phun thuốc BVTV sẽ vừa gây lãng phí vừa ảnh hưởng đến chất lượng hạt, tồn dư thuốc BVTV…

cau-chuyen-giam-phan-bon-trong-trong-trot-hien-nay

Câu chuyện ‘giảm phân bón’ trong trồng trọt hiện nay

Câu chuyện ‘giảm phân bón‘ trong trồng trọt hiện nay đang rất được quan tâm. Vì khi sử dụng quá nhiều phân bón sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cả cây trồng.

cau-chuyen-giam-phan-bon-trong-trong-trot-hien-nay

Chất thải phân bón và áp lực lên đất

Áp lực thâm canh trong sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng. Trong 20 năm qua (2000 – 2020) tổng lượng phân hoá học sử dụng ở nước ta về lý thuyết dao động từ 215 – 415 kg chất khoáng tiêu chuẩn / ha (DDK / ha), bình quân khoảng 350 kg DDK / ha. /năm.

Nhìn chung, lượng phân hóa học sử dụng của Việt Nam tương đương với các nước có nền thâm canh tiên tiến trong khu vực (Hàn Quốc 467 kg / ha, Nhật Bản 403 kg / ha, Trung Quốc 390 kg / ha). Tuy nhiên, ở nước ta, đặc biệt là những vùng đông dân cư như đồng bằng sông Hồng, cường độ canh tác ngày càng đáng báo động vì nó tạo áp lực phân bón nhiều hơn cho đất nông nghiệp.

Mật độ canh tác ở nhiều nơi lên đến trên 1.000 đơn vị DDK / ha / năm, thậm chí cao hơn ở những vùng chuyên canh rau màu, cà phê, hồ tiêu, vùng trồng hoa ven đô.

Áp lực phân bón lên đất nông nghiệp đã tăng 30 – 50% so với giai đoạn 1980 – 2000. Thực tế này đặt ra cảnh báo về sự gia tăng phú dưỡng phốt pho và nitơ, đặc biệt là trong các hệ thống thâm canh lúa, cà phê và các cây trồng kinh tế khác. Mặt khác, cần nhấn mạnh rằng xu hướng sử dụng phân bón hóa học ở các nước công nghiệp phát triển, mặc dù trước đây là cao, nhưng đã giảm đáng kể trong những năm gần đây.

Theo thống kê, tổng lượng phân bón sử dụng trong những năm gần đây khoảng 10 triệu tấn / năm (năm 2020 là 10,23 triệu tấn), tuy nhiên hiệu quả vẫn thấp, chỉ đạt dưới 50%. Các nghiên cứu cho thấy hàng năm có 40-60% lượng phân bón bị thất thoát trong các hệ thống canh tác, điều này không chỉ gây lãng phí (hơn 2 tỷ USD về tài chính) mà còn gây ô nhiễm môi trường và tăng phát thải khí nhà kính (GHG).

Nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa thể giải quyết vấn đề an ninh lương thực

Nhìn thấy mặt trái của phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật, có một xu hướng đang ngày càng được khuyến khích: nông nghiệp hữu cơ – bác bỏ hoàn toàn các thành tựu của hóa chất nông nghiệp.

Mặc dù xu hướng nông nghiệp hữu cơ đang ngày càng gia tăng, nhưng số liệu và thực tế đã chứng minh rằng chỉ “dựa vào thiên nhiên và nguồn nước từ bầu trời” là không đủ để đảm bảo cuộc sống đủ đầy cho nhân loại.

Hạn hán, lũ lụt và xâm nhập mặn đã gây ra nạn đói ở nhiều vùng. Xóa đói giảm nghèo trở thành mục tiêu số một của thiên niên kỷ về phát triển bền vững. Các thí nghiệm trồng cây không sử dụng phân bón vẫn cho năng suất nhưng chỉ tương đương 20 – 30% tổng năng suất hiện nay.

FAO và WHO dự báo đến cuối năm nay sẽ có tới một tỷ người rơi vào cảnh nghèo đói. An ninh và an toàn thực phẩm, điều tối quan trọng đối với nhân loại, vẫn là chủ đề thảo luận hàng đầu ngay cả trong và sau đại dịch Covid-19.

Giảm phân bón hóa học và phát triển nông nghiệp tuần hoàn sinh thái: xu hướng tất yếu

cau-chuyen-giam-phan-bon-trong-trong-trot-hien-nay

Như đã đề cập ở trên, chỉ 50% lượng phân hóa học được sử dụng được coi là hiệu quả, trong khi 50% còn lại bị thất thoát trong hệ thống và thải ra môi trường, dẫn đến câu hỏi liệu có nên chỉ 50% lượng phân hóa học so với số lượng được sử dụng ngày nay.

Đó không phải là cách vấn đề tối ưu hóa hoạt động.

Về phản ứng sinh học, năng suất tốt nhất là phản ứng quang hợp tự nhiên, nhưng tối đa vẫn chỉ đạt 68% so với lý thuyết. Chưa có quốc gia nào đặt tỷ lệ giảm phân bón hóa học là 50% trên quy mô toàn quốc. Trung Quốc đưa ra mức giảm 10% đối với phân khoáng trong vòng 10 năm (1% / năm). Tỷ lệ giảm trên thực tế phụ thuộc vào lịch sử canh tác, mùa vụ, loại đất, thời tiết và mức năng suất mong muốn của mỗi quốc gia.

Các nước phát triển hiện đã thực hành nông nghiệp chính xác. Chúng ta có các công thức khá phổ biến như “1 phải, 5 giảm” (1P5G) hoặc “3 giảm 3 tăng” (3G3T). Với cơ sở dữ liệu lớn và thông tin khí tượng tức thời, kỹ thuật nông nghiệp đang hướng tới nông nghiệp chính xác: đúng hơn, đủ và chính xác hơn sự thụ tinh.

su-dung-phan-bon-tren-cay-an-trai-dat-hieu-qua-cao

Sử dụng phân bón trên cây ăn trái đạt hiệu quả cao

Sử dụng phân bón trên cây ăn trái đạt hiệu quả cao – sử dụng phân bón tiết kiệm, hiệu quả là vấn đề nhà nông nên quan tâm để canh tác có hiệu quả, mang lại lợi nhuận.

su-dung-phan-bon-tren-cay-an-trai-dat-hieu-qua-cao

Nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón

Theo GS.TS Trần Văn Hâu, giảng viên khoa Nông nghiệp (Trường Đại học Cần Thơ), phân bón sẽ đem lại hiệu quả, chất lượng và năng suất nếu chúng ta bón đúng cách. Ngược lại, vườn cây chẳng những không có năng suất, chất lượng mà còn mất tiền. Trong bối cảnh giá phân bón tăng cao như hiện nay, nhà nông cần cân nhắc phương pháp sử dụng để có chất lượng như mong muốn.

Muốn sử dụng phân bón hiệu quả, nhà nông cần sử dụng phân bón theo nguyên tắc “4 đúng”. Thứ nhất là bón đúng thời kỳ cây cần. Các loại trái cây hầu như có đặc tính sinh trưởng gián đoạn có tính thời kỳ. Thời kỳ ra đọt, ra hoa, phát triển, mỗi thời kỳ đòi hỏi một nhu cầu dinh dưỡng khác nhau nên cách bón khác nhau.

Trong một thời kỳ, lại chia từng giai đoạn như khi mới đậu trái, nuôi trái, lớn nhanh… Chỉ cần bón không đúng thời kỳ, chẳng những trái không đạt mà còn giảm năng suất. Mỗi lần bón phân, bà con tưới nước liên tục thì năng suất cao.

Thứ hai, cần bón đúng phân. Phân bón có đa lượng và vi lượng. Một số doanh nghiệp chia thêm trung lượng. Đa lượng là đạm, lân, kali. Vi lượng là canxi, magie, lưu huỳnh, sắt đồng, kẽm, mangan… Bón tỷ lệ đúng thì mới hiệu quả, nếu không sẽ có hại.

Thứ ba, cần bón đúng liều lượng phân tuỳ thuộc vào giai đoạn, tuổi cây, năng suất… Bón phân phải “nhìn cây, nhìn đất, nhìn trời” để quyết định lượng phân. Tùy vào đất xấu hay tốt để có quy trình, lượng bón khác nhau. Việc bón phân cũng cần xem tình hình thời tiết.

Cuối cùng, phải bón đúng cách. Thông thường đối với đất vườn thì phân bón hay bị rửa trôi, do đó bà con phải xới đất tơi xốp để giữ phân sau khi cây sử dụng không hết.

Theo Thạc sỹ Lê Trí Nhân, công tác tại Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến Tre: Bà con bón nhiều phân hoá học sẽ làm giảm pH đất. Bón nhiều phân hữu cơ tươi cũng sẽ làm chua đất. Do đó, bà con nên thiết kế hệ thống canh tác, để nước ra vô thường xuyên làm đất bớt chua.

Mặt khác, bà con cần điều chỉnh độ pH, từ đó sẽ điều chỉnh hiệu quả sử dụng phân bón. Chẳng hạn nếu pH <4.5, mỗi kg phân bón bà con lãng phí khoảng 70%. Nếu pH được nâng lên 5.0, mỗi kg phân bón bà con vẫn còn lãng phí hơn 53%. Đối với đất thường, pH bằng 6.0, mức hiệu quả sử dụng phân bón cũng chỉ mới đạt 80%, bà con vẫn còn lãng phí 20%. Tuy nhiên đối với đất trung tính, pH bằng 7.0 thì hiệu quả sử dụng phân bón lên đến 100%

su-dung-phan-bon-cho-vu-lua-xuan

Sử dụng phân bón cho vụ lúa xuân

Sử dụng phân bón cho vụ lúa xuân cần chú trọng những điều sau.

su-dung-phan-bon-cho-vu-lua-xuan

Yêu cầu đất đai và thời vụ trồng lúa ở Việt Nam

Cây lúa không kén đất. Ở nước ta lúa có thể được trồng và cho năng suất trên hầu hết các loại đất: Đất phù sa của các hệ thống sông, đất phèn, đất mặn, đất bạc màu. Tuy vậy năng suất lúa cũng rất khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố hạn chế của đất. Đất mặn yếu tố hạn chế chính là nồng độ Cl- cao, EC lớn cho nên phải sử dụng các giống có khả năng chịu mặn. Đối với đất phèn yếu tố hạn chế chính là thiếu lân và nồng độ Al+3 và Fe+2, canh tác lúa trên loại đất này phải chọn những giống có khả năng chống chịu với các hạn chế trên. Đất bạc màu, yếu tố hạn chế chính là hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu thấp.

Thời vụ trồng lúa đông xuân ở Việt Nam

Ở nước ta có 2 vùng khí hậu chính: Từ đèo Hải Vân trở ra phía Bắc có khí hậu cận nhiệt đới, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều nên trồng lúa xuân để đạt năng suất cao phải chọn lịch gieo trồng thích hợp.

Lịch gieo cấy lúa xuân vùng đồng bằng Bắc bộ: Vụ xuân sớm gieo 20-25/11, cấy 15/1, gặt cuối tháng 5, đầu tháng 6; Vụ xuân chính vụ gieo 10-20/12, cấy 15/2, gặt tháng 6; Vụ xuân muộn gieo 20/1-5/2, cấy 5/3, gặt cuối tháng 6. Hiện nay hầu hết các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng cấy xuân chính vụ và xuân muộn, một số tỉnh/thành như: Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội tỷ lệ xuân muộn tới 80-90% và diện tích sử dụng giống lúa lai cũng tăng lên.

Phía Nam đèo Hải Vân có khí hậu nhiệt đới điển hình nên có thể gieo trồng lúa ở bất cứ thời điểm nào trong năm, tuy vậy đối với vụ đông xuân thì lịch gieo trồng như sau:

Vụ đông xuân sớm gieo 6/11; Vụ đông xuân chính vụ gieo 21/11; Vụ đông xuân muộn gieo 6/12. Tất cả còn phụ thuộc vào độ ngập nông hay sâu, lũ rút sớm hay muộn. Ở miền Nam thường sử dụng những giống ngắn ngày.

Hệ số bón phân bón của cây lúa:

Tùy theo chân đất, giống lúa, thời vụ gieo cấy, lượng phân bón mà hệ số sử dụng đạm, lân và kali cũng khác nhau. Trong điều kiện lúa nước ở Việt Nam hệ số sử dụng như sau:

Đạm 30 – 45% hoặc 30 – 50%.

Lân 15 – 25% hoặc 20 – 30%.

Kali 40 – 50% hoặc 50%.

(40% chỉ đạt được nếu bón đạm 2 – 4 lần)

Mức khuyến cáo bón phân ở Việt Nam

Ở đồng bằng sông Hồng với mức bón phân chuồng 5 – 6 tấn/ha để đạt năng suất lúa 5,5 tấn/ha thì lượng bón khuyến cáo như sau: Lượng bón (kg/ha) đất phù sa sông Hồng N 100-110 kg/ha; P2O5 40-50 kg/ha; K2O 30-40 kg/ha; Đất phù sa sông Gâm N 90-100kg/ha; P2O5 50-60kg/ha; K2O 30-40 kg/ha; Đất phèn N 90-100kg/ha, P2O5 60-70 kg/ha; K2O 30-40 kg/ha; Đất bạc màu N 100-110 kg/ha; P2O5 60-70 kg/ha; K2O 60-70 kg/ha.

Cho vùng đồng bằng sông Cửu Long: Phù sa sông Cửu Long vụ đông xuân N 110-120 kg/ha; P2O5 30-40 kg/ha; K2O 30-40 kg/ha; Đất phèn nhẹ vụ đông xuân N 90-100 kg/ha; P2O5 40-50 kg/ha; K2O 10-20 kg/ha; Đất xám vụ đông xuân N 100-110 kg/ha; P2O5 40-50 kg/ha; K2O 70-80 kg. Muốn có bội thu năng suất thêm 1 tấn/ha (đối với giống lúa lai và giống có năng suất cao cần phải bón thêm 20 kg P2O5 và 30 kg. Đạm bón theo thang màu lá lúa. Lượng bón thực tế có thể dao động ± 10-20% tổng số đạm bón và ngày bón phụ thuộc trạng thái đạm của cây ở từng giai đoạn phát triển).

da-pumice-co-vai-tro-trong-cai-tao-dat-trong

Đá Pumice có vai trò trong cải tạo đất trồng

Đá Pumice có vai trò trong cải tạo đất trồng. Và để tận dụng, khai thác tối đa tiềm năm của đất cho phát triển nông nghiệp, nhà vườn cần hướng đến một giải pháp tối ưu, bền vững chính là cải tạo đất với đá Pumice. Vậy vai trò của đá Pumice trong cải tạo đất trồng là gì? Cùng tìm hiểu trong bài viết nhé.

da-pumice-co-vai-tro-trong-cai-tao-dat-trong

Đá Pumice giúp hỗ trợ quá trình trao đổi khí hiệu quả

Nhắc đến vai trò của đá Pumice trong cải tạo đất trồng thì trước tiên, ta cần đặc biệt nhấn mạnh đến hiệu quả quá trình trao đổi khí. Trao đổi khí luôn là quy trình quan trọng và cần thiết đối với đất và cây trồng. Và chắc chắn rồi, đối với bất kỳ một mảnh đất canh tác nào cũng thế thôi, công tác này cần phải đảm báo đáp ứng một cách tốt nhất.

Khi sử dụng đá Pumice cải tạo đất, đá bọt lúi lứa sẽ hỗ trợ và thúc đẩy trao đổi khí được diễn ra thuận lợi và mạnh mẽ. Cụ thể hơn là khí carbon dioxide và khí oxy sẽ tự do trao đổi bên trong vùng rễ cây.

Đá Pumice giúp giữ lại dưỡng chất trong cải tạo đất trồng

Một trong những ưu điểm nổi trội của đá bọt núi lửa đấy chính là khả năng giữ lại dưỡng chất bên trong đất trồng. Không chỉ là một giá thể phổ biến, được nhà vườn đánh giá cao mà đá bọt còn mang đến hiệu quả giữ lại một lượng nước giàu dinh dưỡng.

Khi sử dụng đá Pumice cải tạo đất, bà con hoàn toàn an tâm rằng ta có thể giữ các chất này ở lại trong một thời gian dài. Từ đây, hệ thống rễ cây luôn luôn được cung cấp lượng có sẵn giữa những chu kỳ tưới. Do vậy mà giảm bớt thời gian và công sức chăm sóc cho nhà vườn.

Đá Pumice hỗ trợ giúp cân bằng đất và cây trồng

Nói đến vai trò của đá Pumice trong cải tạo đất trồng nhất định phải kể tên hiệu quả này, đấy là hỗ trợ giúp cân bằng đất và cây. Không chỉ mang đến khả năng thoát nước với tốc độ nhanh chóng, ấn tượng, độ giữ ẩm tuyệt vời mà đá còn thúc đẩy gia tăng sự trao đổi khí quan trọng và thiết yếu. Tất cả chúng đều vô cùng cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây.

Đất sống thì cây mới khỏe. Một nền đất được cải tạo tốt, giàu dưỡng chất, cân bằng chính là nền tảng cho cây tăng trưởng xanh tốt, khỏe mạnh.

Đá Pumice gia tăng tốc độ và khả năng thoát nước cho đất trồng

da-pumice-co-vai-tro-trong-cai-tao-dat-trong

Trong quá trình cải tạo đất, nhà vườn cần đặc biệt quan tâm đến tốc độ và khả năng thoát nước cho đất trồng. Và với vai trò của đá Pumice trong cải tạo đất trồng này thì không nhiều giá thể có khả năng làm được. Tốc độ thoát nước của đá bọt núi lửa được đánh giá cao vô cùng. Từ đây, không khí được cho phép di chuyển vào vùng rễ nhưng vẫn đảm bảo là giữ được vừa đủ độ ẩm, giàu dưỡng chất cho đất trồng.

Vai trò này của đá Pumice sẽ được thực hiện một cách đều đặn giữa những chu kỳ tưới. Điều này tạo điều kiện, thúc đẩy cho cây sinh trưởng và triển tốt nhất.

Đá Pumice là chất cải tạo đất tự nhiên, an toàn và thân thiện với môi trường

Trên thị trường hiện nay, nhà vườn không khó để đi tìm một chất cải tạo đất. Tuy nhiên, đâu mới thực sự là chất cải tạo đất hiệu quả và chất lượng? Đặc biệt hơn, đâu mới là sản phẩm an toàn cho sức khỏe, thân thiện với môi trường? Bảo vệ môi trường và sức khỏe cho mọi người luôn là điều kiện, yếu tố hàng đầu trong bất kể một ngành kinh tế nào và nông nghiệp cũng thế.

anh-huong-cua-phan-bon-doi-voi-cay-trong

Ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng

Ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng. Sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây trồng chịu tác động của rất nhiều yếu tố như đất đai, thời tiết, nước tưới, sâu bệnh, giống,… thì phân bón là một trong những yếu tố quan trọng nhất và mang tính quyết định. Để đảm bảo cây trồng sinh trưởng, phát triển xanh tốt khỏe mạnh cần sử dụng phân bón hợp lý, đầy đủ  giúp cung cấp đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cho cây. Dưới đây là một số ảnh hưởng phân bón đến sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây.

anh-huong-cua-phan-bon-doi-voi-cay-trong

Ảnh hưởng của phân bón

 Phân bón với sự sinh trưởng của cây trồng

Phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng của cây trồng. Sử dụng phân bón cân đối hợp lý sẽ thúc đẩy các quá trình sinh trưởng của cây, đẻ nhánh, cành lá phát triển, thúc đẩy cây ra hoa nhiều và đồng loạt, tỷ lệ đậu quả cao. Tạo điều kiện rễ phát triển, rễ ăn sâu, rộng giúp hạn chế đổ ngã. Tăng sức đề kháng và khả năng chống chịu của cây trồng.

Ngoài việc cung cấp các dưỡng chất cần thiết, phân bón còn tác động đến toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp, thúc đẩy các quá trình như phân hủy, chuyển hóa các chất….tăng khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng, phân giải các chất khó hấp thu thành các chất dễ hấp thu, tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng phát triển khỏe mạnh.

Nếu thiếu hụt phân bón cây trồng sẽ không phát triển hay phát triển kém, cây còi cọc, khả năng đẻ nhánh thấp, cành lá ra ít, lá nhỏ, lá vàng, không ra hoa hoặc ra hoa ít, tỷ lệ đậu quả thấp, bộ rễ kém phát triển, dễ bị sâu bệnh tấn công, khả năng chống chịu kém đối với các yếu tố bất lợi.

Phân bón với năng suất cây trồng

anh-huong-cua-phan-bon-doi-voi-cay-trong

Một cây trồng sinh trưởng, phát triển khỏe mạnh tạo tiền đề cho một vụ mùa năng suất cao. Nên việc sử dụng phân bón đầy đủ cân đối để đạt năng suất cao nhất là rất quan trọng. Tuy nhiên, phân bón với cây trồng chỉ cần vừa đủ không được dư thừa hay thiếu, vậy nên cần nắm rõ nhu cầu của dinh dưỡng của từng giống cây, từng loại cây trồng, nếu thừa hay thiếu đều có tác dụng ngược lại, cây trồng kém phát triển, không ra hoa hoặc ra hoa ít, tỷ lệ đậu quả thấp, hiện tượng rụng hoa, trái non sinh lý nhiều, xảy ra hiện tượng năm được năm mất mùa giảm sút năng suất một cách nghiêm trọng.

Trong tất cả các điều kiện canh tác, khi tăng lượng phân bón sẽ làm nâng cao năng suất cây trồng những năng suất cây trồng tăng lên không tỉ lệ thuận với lương phân bón sử dụng tăng lên mà sẽ có xu hướng giảm sút. Lượng phân bón tăng lên thì năng suất sẽ tăng đến một giới hạn nhất định rồi sẽ không tăng nữa mà còn bị giảm xuống do dư thừa dinh dưỡng.

Phân bón ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng, quan trọng nhất là giai đoạn trước ra hoa và nuôi quả/trái. Sử dụng phân bón vào giai đoạn trước ra hoa là thời kỳ quyết định đến số lượng và chất lượng ra hoa, việc bón phân để cung cấp đủ các dưỡng chất vào giai đoạn này sẽ giúp cây ra hoa to, hoa nhiều, đồng loạt, khả năng đậu quả cao. Giai đoan cây nuôi trái/quả việc bón phân cung cấp đủ các dưỡng chất cần thiết sẽ thúc đẩy quá trình tích lũy các chất hữu cơ (tinh bột, protein, đường,…) giúp trái/quả to, nặng ký, trái đồng đều, kể cả với những loại giống tốt cũng chỉ đạt năng suất cao khi sử dụng phân bón cân đối, hợp lý.

thuc-hien-quy-trinh-tieu-chuan-ve-san-xuat-phan-bon-huu-co-tu-vo-ca-phe

Thực hiện quy trình tiêu chuẩn về sản xuất phân bón hữu cơ từ vỏ cà phê

Thực hiện quy trình tiêu chuẩn về sản xuất phân bón hữu cơ từ vỏ cà phê. Viện Khoa học Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) đã thiết lập một kỹ thuật tiêu chuẩn để sản xuất phân bón hữu cơ từ vỏ cà phê và phân phối cho nông dân.

thuc-hien-quy-trinh-tieu-chuan-ve-san-xuat-phan-bon-huu-co-tu-vo-ca-phe

Phủ xanh khu vườn bằng phân bón vỏ cà phê hữu cơ

Vườn cà phê của anh Nguyễn Xuân Thành (TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) được nuôi dưỡng hữu cơ vỏ cà phê, tươi tốt với cây xanh và quả to, trái ngược hoàn toàn với khu vườn 1 ha chưa phát triển trước đây với sản lượng hạn chế.

Theo anh Thành, anh thường bón phân cho rễ cà phê bằng vỏ cà phê sống. Trong khi thủ tục này hỗ trợ trong việc nới lỏng kiểm soát đất và cỏ dại, lượng chất dinh dưỡng nhận được từ rễ bị hạn chế.

Bởi vì vỏ được sử dụng theo cách này, một số vi khuẩn nguy hiểm đã phát triển gây bệnh ở cây cà phê, chẳng hạn như nấm.

“Khi chúng tôi sử dụng phân bón hữu cơ kết hợp với các loại phân bón hóa học khác, cây cà phê của chúng tôi trở nên phát triển đầy đủ và xanh. Sản lượng vượt 3 tấn/ha”, ông Thành nói.

Theo kỹ sư Nguyễn Hải Dương thuộc nhóm kỹ thuật của WASI, vỏ cà tím có thể được ủ để cung cấp phân bón hữu cơ cho cây sau thu hoạch. Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn cải thiện hệ thống rễ của cây cà phê, dẫn đến quả to hơn, đồng đều hơn so với phân bón truyền thống.

Đặc biệt, phân bón hữu cơ làm từ vỏ cà phê có chức năng phân hủy và thay đổi các chất hữu cơ khác trong đất thành chất dinh dưỡng cho cây trồng. Phân bón cũng làm tăng hệ số sử dụng phân khoáng cho cây trồng, dẫn đến giảm số lượng phân bón hóa học thấm vào nước ngầm hoặc thăng hoa vào không khí, dẫn đến suy thoái môi trường, ông Dương giải thích

“Khi pha cà phê, cần kích hoạt men để tăng số lượng vi sinh vật. Độ ẩm của đống phân hữu cơ nên được theo dõi thường xuyên, và nó nên được tưới nước khi nó trở nên khô. “Khi mọi người ủ, họ cần duy trì độ ẩm 50-60% để đảm bảo rằng vật liệu nhanh chóng thối rữa, không phải cả năm để trở thành phân”, kỹ sư Dương giải thích.

Thiết lập một quy trình nhất quán

thuc-hien-quy-trinh-tieu-chuan-ve-san-xuat-phan-bon-huu-co-tu-vo-ca-phe

Tiến sĩ Phan Việt Hà, Phó Giám đốc WASI, cho biết tổ chức đã tiến hành nghiên cứu các chế phẩm sinh học cụ thể để hỗ trợ nông dân ủ phân bón đúng cách và phát huy hiệu quả của phân bón hữu cơ làm từ vỏ cà phê. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu phát triển một phương pháp ủ phân hữu cơ từ vỏ cà phê

cach-bon-phan-thich-hop-va-giam-phan-bon-van-se-dam-bao-nang-suat-lua

Cách bón phân thích hợp và giảm phân bón vẫn sẽ đảm bảo năng suất lúa

Cách bón phân thích hợp và giảm phân bón vẫn sẽ đảm bảo năng suất lúa. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng cây lúa chỉ hấp thụ tối đa không quá 50-52% nitơ áp dụng cho đất.

cach-bon-phan-thich-hop-va-giam-phan-bon-van-se-dam-bao-nang-suat-lua

Phân bón nitơ – cần thiết nhất để giảm

Không chỉ bây giờ giá phân bón quá cao mà chúng tôi đề cập đến sự cần thiết phải giảm phân bón. Trong số đó, nitơ là cần thiết nhất để giảm.

Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng trong tổng lượng nitơ áp dụng cho đất để trồng lúa, cây lúa chỉ hấp thụ tối đa không quá 50-52%. Do đó, một phần của phần còn lại xâm nhập sâu vào đất trong khi những người khác bay hơi bằng hơi nước, trôi cùng với độ thấm nước hoặc được giữ lại bởi đất có tính axit (độ pH thấp).

Đó là chưa kể một số trường hợp nông dân vẫn bón phân chỉ làm theo hướng dẫn nhưng không tập trung vào đất tốt như thế nào hoặc cây lúa đang phát triển như thế nào. Vô tình, nhiều đơn vị sản xuất và nông dân địa phương phụ thuộc quá nhiều vào lý thuyết nhưng không phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện thực tế và kinh nghiệm thực tế để tìm ra cách sử dụng phân bón phù hợp.

Từ thực tế như vậy, có ý kiến đề nghị giảm phân bón, chủ yếu là nitơ, cùng với các phương pháp bón phân phù hợp vẫn giúp không làm giảm năng suất lúa, cụ thể như sau:

Thứ nhất, hầu hết các cánh đồng lúa đều có tính axit do lũ lụt. Do đó, trước mỗi vụ, ít nhất 250-300kg vôi bột/ha nên được áp dụng cho đất. Độ che phủ vôi sẽ vừa giúp giảm độ axit của đất, làm sạch đồng ruộng vừa tiêu diệt vi trùng của sâu bệnh ký sinh trong đất gây bệnh cho lúa.

Thứ hai, chỉ nên sử dụng NPK hoặc NP làm mồi trước khi gieo. Nitơ và kali nên được sử dụng trong khi gạo nở hoa.

Giảm chi phí 1,6 triệu đồng/ha, năng suất lúa vẫn cao nhất vùng

Sử dụng phân đạm để thúc đẩy cày lúa và nở hoa có một số ưu điểm:

Đầu tiên, nếu đất tốt và các cánh đồng sâu và bùn, thì khi bón phân cho lúa, lượng phân đạm nên giảm từ 1kg xuống còn 2kg so với những loại được áp dụng cho đất ít màu mỡ hơn.

Nếu bón phân trước khi lúa nở, nitơ và kali là cần thiết nhưng rất ít nitơ. Trong trường hợp lúa phát triển tốt và lá chuyển sang màu xanh đậm, có thể không sử dụng nitơ, mà chỉ có kali.

Thứ hai, bón phân đơn giản với phương pháp trên vừa có thể làm giảm phân đạm không cần thiết, vừa hạn chế sự phát triển và lây lan của sâu bệnh gây hại. Nó chắc chắn cũng sẽ làm giảm chi phí sản xuất.

Ông Dương Văn Khang, một lão nông có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa ở xã Long Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An cho biết, mỗi vụ gia đình ông trồng hơn 0,5 ha lúa. Trước đây, ông thường bón phân với npk loại 16-16-8 để mồi và NPK loại 15-5-20 trước khi lúa nở.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ông không sử dụng hợp chất NPK nữa mà đã chuyển sang sử dụng hoàn toàn một loại phân bón duy nhất. Kinh nghiệm của anh Khang trước khi bón phân là phải “nhìn trời, đất, cây”.

Theo ông, khi trời mưa, hãy ngừng bón phân. Nếu bạn thấy đất tốt, chỉ cần giảm lượng phân đạm từ 1 đến 2kg/500m2 so với đất áp dụng trong đất xấu và vô sinh. Nếu cây lúa phát triển tốt với lá màu xanh đậm, cần giảm lượng phân đạm xuống mức thấp nhất để ngăn lúa dễ bị bệnh.

Với cách bón phân này, ruộng lúa của ông hiếm khi bị sâu bệnh và luôn cho năng suất cao nhất tại địa phương. Cũng theo ông Khang, nếu chúng ta sử dụng phân bón đơn sẽ giảm chi phí trung bình 80.000 đồng/500m2 (1,6 triệu đồng/ha).

ky-thuat-bon-phan-cho-ngo-dat-nang-suat-toi-uu

Kỹ thuật bón phân cho ngô đạt năng suất tối ưu

Kỹ thuật bón phân cho ngô đạt năng suất tối ưu. Các chuyên gia nhận định rằng, hiện nay năng suất của cây ngô nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của giống và của vùng trồng. Nguyên nhân đến từ việc quá trình bón phân của bà con chỉ đáp ứng được từ 60 đến 80% nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô, vốn là một loại cây rất phàm ăn. Nhất là các nguyên tố trung và vi lượng hầu như chưa được quan tâm đến.

ky-thuat-bon-phan-cho-ngo-dat-nang-suat-toi-uu

Để góp phần nâng cao năng suất, chất lượng ngô nông sản. Công ty liên doanh phân bón Hữu Nghị khuyến cáo bà con đồng bộ dinh dưỡng cho cây ngô bằng dòng phân bón NPK Hữu Nghị tích hợp cân đối các nguyên tố đa trung vi lượng. Hàm lượng gồm đầy đủ đạm, lân, kali và một tỷ lệ vàng TE: Ca, Mg, S, Si, Bo, Cu, Zn… Chúng tôi có các dòng phân chuyên lót và chuyên thúc cho cây ngô, đảm bảo cung ứng đủ dinh dưỡng cho tất cả các thời kỳ sinh trưởng như sau:

Bón lót trước khi gieo trồng

Mục đích bón phân bón lót cho ngô là phục hồi dinh dưỡng cho đất trồng ngô, đồng thời tạo độ tơi xốp, tăng khả năng hấp thụ dưỡng chất của bộ rễ. Lượng phân bón lót cho ngô tương đối nhiều, chiếm 70% tổng số phân bón cho ngô và chủ yếu nên dùng phân hữu cơ.

Bà con tiến hành bón lót toàn bộ phân hữu cơ sinh học Anfa Batorganic (400kg/ha) và rải vôi bột tùy theo tình trạng đất. Kết hợp bón lót NKP 16.16.8 hòa cùng với nước hoặc bón vãi, bón hốc hay bón theo rạch, bón xong lấp đất kín lại và để đất nghỉ. Không để hạt giống, hoặc cây con tiếp xúc trực tiếp với phân tránh tình trạng gây xót hạt, thối mầm và chết cây.

Tưới nhử cho ngô 3 – 4 lá (hoặc từ 3 – 5 ngày sau khi đưa bầu ra ruộng)

Khi ngô đã bén rễ, hồi xanh, bà con bón cách gốc 10cm phân NPK 16.16.8 kết hợp với tưới nước hoặc có thể hòa tan phân để tưới cho cây. Dòng phân NPK 16.16.8 với hàm lượng đạm và lân cao sẽ giúp cây ngô mập mạp, kích thích chồi lá phát triển mạnh và thúc đẩy bộ rễ sinh trưởng khỏe, tăng sức chống chịu với môi trường.

Bón thúc lần 1: Khi ngô được 9 – 10 lá

Khi ngô đạt 5 – 6 lá, tiếp tục chọn dinh dưỡng chuyên dùng NPK 16.16.8 rải cách gốc 5 – 10 cm. Bà con cần kết hợp vun cao gốc và làm cỏ để tập trung dinh dưỡng cho cây ngô, hạn chế đổ ngã.

Phân NPK 16.16.8 nói riêng và các dòng NPK Hữu Nghị nói chung được tích hợp đầy đủ nguyên tố đa trung vi lượng theo một tỷ lệ cân đối. Bà con cần áp dụng đúng theo khuyến cáo ghi trên bao bì để đạt được hiệu quả tối ưu nhất.

Bón thúc lần 2: Khi ngô bắt đầu trổ cờ

Bón phân NKP 15.5.16 kết hợp với tưới nước khi ngô xoắn nõn (10 – 15 ngày trước trổ cờ). Bà con lưu ý rải phân cách gốc 10 – 15 cm, kết hợp vun cao gốc lần cuối (lưu ý tránh làm ảnh hưởng rễ ngô). Lần thúc này có tác dụng tốt cho quá trình phân hóa bắp, trổ cờ, tung phấn, thụ tinh. Hàm lượng Kali cao trong phân 15.5.16 giúp cây ngô ra bắp to, hạt chắc, nâng cao chất lượng nông sản.