them-mot-goc-nhin-khac-ve-thuc-pham-huu-co

Thêm một góc nhìn khác về thực phẩm hữu cơ

Thêm một góc nhìn khác về thực phẩm hữu cơ. Mục tiêu chỉ đơn giản là củng cố niềm tin vào thị trường thực phẩm hữu cơ đang phát triển nhanh nhưng bị phân mảnh.

them-mot-goc-nhin-khac-ve-thuc-pham-huu-co

Chợ hóa chất hữu cơ

Yếu tố quan trọng quyết định liệu thứ gì đó có đủ tiêu chuẩn là hữu cơ hay không lại là một thứ khá trần trụi có tên “phương pháp sản xuất”. Đối với cây trồng, nguồn gốc của hạt giống là chìa khóa – nó phải được trồng theo phương pháp hữu cơ và không thể là sản phẩm của kỹ thuật di truyền (GMO hoặc chỉnh sửa gen).

Có một cách hiểu phổ biến rằng, thực phẩm hữu cơ được trồng mà không có hóa chất – và các cửa hàng kinh doanh mặt hàng này đã góp phần làm nên ấn tượng này. Thực tế là có tới trên 100 loại phân bón và nguyên liệu đầu vào (thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng hoặc thuốc diệt nấm) được cho phép trong canh tác hữu cơ ở cả châu Âu lẫn Mỹ.

Các quy định hữu cơ được thiết kế để thúc đẩy việc sử dụng hóa chất tự nhiên thay vì các quy định tổng hợp. Nhưng do nhiều loại hóa chất tự nhiên không kiểm soát tốt sâu bệnh và mặc dù sự vắng mặt của thuốc trừ sâu tổng hợp thường được trích dẫn để ủng hộ các chất hữu cơ. Trên thực tế nông dân sản xuất hữu cơ đã được Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) chấp thuận cho sử dụng hàng chục loại hóa chất tổng hợp, từ vacxin cho động vật đến chất dẫn dụ pheromone côn trùng, hoặc cho dùng thuốc trừ sâu không tổng hợp (có thể kém hiệu quả hơn thuốc trừ sâu tổng hợp) để triển khai ở cấp độ cao hơn so với canh tác phi hữu cơ.

Nông nghiệp hữu cơ có bền vững hơn không?

Quan điểm này đối với đa số người ủng hộ thực phẩm “tự nhiên” là thực phẩm hữu cơ rõ ràng là tốt hơn cho môi trường so với thực phẩm thông thường. Tuy nhiên ngay cả điều này cũng là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi.

Ví dụ đánh giá về năng suất cây trồng, rõ ràng khi nền nông nghiệp và công nghệ phát triển, có thể làm ra nhiều lương thực hơn trên một diện tích đất ít hơn. Đó là một chiến thắng cho môi trường. Nhưng vì các quy tắc quản lý nông nghiệp hữu cơ ngăn cản việc sử dụng một số phương pháp hiện đại, nên cây trồng hữu cơ không thể phát triển hiệu quả và đòi hỏi nhiều đất canh tác hơn để sản xuất một lượng lương thực nhất định. Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature, năng suất hữu cơ thấp hơn 34% so với canh tác thông thường.

Nhà sinh vật học cây trồng Steve Savage đã xem xét tác động của việc chuyển đổi toàn bộ sản lượng nông nghiệp của Mỹ sang hữu cơ. Các phân tích, xuất bản bởi Dự án Genetic Literacy phát hiện ra rằng, để bù đắp cho hiệu quả sản xuất hữu cơ năng suất thấp hơn sẽ đòi hỏi việc phải trồng nhiều hơn thêm tới 100 triệu mẫu – một diện tích canh tác lớn hơn cả bang California…

Biến đổi khí hậu thì sao?

Nông nghiệp hữu cơ đặc biệt có vấn đề khi đề cập đến vấn đề biến đổi khí hậu. Một nghiên cứu gần đây đã “đóng sầm cánh cửa hữu cơ” vì thiếu vắng sự đổi mới liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu, cũng như các công ty thực phẩm hữu cơ luôn chống lại việc áp dụng các công nghệ mới có thể cắt giảm khí thải độc hại.

Nhiều người ủng hộ hữu cơ, bao gồm cả các chính trị gia ở Liên minh Châu Âu, quảng bá thứ gọi là “Thỏa thuận Xanh từ nông trại đến bàn ăn (F2F)”, nhằm mục đích chuyển phần lớn đất nông nghiệp châu Âu sang sản xuất hữu cơ trong thập kỷ tới. Tuy nhiên các nhà khoa học độc lập cho rằng, đó sẽ là một thảm họa khi dẫn chứng một nghiên cứu vào năm 2019 đánh giá tác động tiềm tàng đối với Xứ Wales một khi đáp ứng các mục tiêu của Thỏa thuận Xanh F2F.

Cụ thể là muốn đẩy năng suất hữu cơ tăng lên 40% thì cũng tăng lượng phát thải khí nhà kính lên tới 58%. Theo đó, thay vì sản xuất đủ để nuôi dân số của mình, các nước châu Âu cần phải bắt đầu nhập khẩu lương thực. Điều này đồng nghĩa với việc tăng sản lượng lương thực ở các nước khác – một kết quả có thể dẫn đến việc chặt phá rừng nhiệt đới trên khắp thế giới.

Chống lại các thành kiến công nghệ

Thị trường thực phẩm hữu cơ vẫn bị thổi phồng và được cho là chưa trung thực. Ảnh: Getty

Rào cản cuối cùng đối với thực phẩm hữu cơ là nó làm gia tăng lo ngại về sự an toàn của các sinh vật biến đổi gen. Tuy nhiên, hơn 90% ngô, bông và đậu nành của Mỹ là cây trồng biến đổi gen. Hơn một nửa diện tích trồng trọt GMO hiện đang được sản xuất ở các nước đang phát triển. Không có nghiên cứu đáng tin cậy nào cho thấy, bất kỳ rủi ro nào từ việc ăn thực phẩm GMO, bởi chúng đã được bán ở khắp nước Mỹ từ năm 1994.

Tính đến nay đã có hơn 150 người đoạt giải thưởng Nobel danh giá đều đã chứng thực sự an toàn của thực phẩm GMO bởi kỹ thuật di truyền giúp bảo vệ môi trường. Ngoài ra, các công cụ chỉnh sửa gen như CRISPR còn có thể tăng cường khả năng kháng sâu bệnh, tăng năng suất cây trồng và giảm lượng khí thải liên quan đến canh tác.

Thực tế thì cây trồng biến đổi gen là chìa khóa để thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững. Những người chỉ trích thực phẩm GMO bỏ qua rằng, các biến thể biến đổi gen đã cứu nhiều loại cây trồng thực phẩm ở Hawaii (đu đủ), Bangladesh (cà tím) và nhiều loại cây trồng khác đòi hỏi khả năng kháng bệnh và chống chịu sâu bệnh.

Gần đây một loại khoai tây mới được lai tạo để sản xuất tại châu Phi đã không cần tới thuốc diệt nấm để chống lại bệnh bạc lá, có thể phá hủy tới 60% mùa ở một quốc gia như Uganda. Những nỗ lực nhằm làm giảm giá trị của các loại thực phẩm biến đổi gen năng suất cao, kháng bệnh như vậy đã cản trở sự tiến bộ và thịnh vượng cho nông dân châu Phi và châu Á

gia-lua-thu-dong-tang-nhung-loi-nhuan-thap

Giá lúa thu đông tăng, nhưng lợi nhuận thấp

Giá lúa thu đông theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long, nông dân đã thu hoạch trên 20.000 ha trong tổng số 42.255 ha. Năng suất bình quân đạt 5,76 tấn/ha.

gia-lua-thu-dong-tang-nhung-loi-nhuan-thap

Tuần qua, tại Vĩnh Long, giá lúa tăng trở lại so với giữa tháng 10/2021, dao động từ 5.600-6.200 đồng/kg

Cụ thể, giá lúa IR 50404 (gạo ướt) cao nhất tại huyện Mang Thít là 6.000 đồng/kg (tăng 800 đồng/kg). Mặt khác, thương lái đang đặt cọc giá gạo ML202 với giá 5.600 đồng/kg.

Với giá lúa trên, nông dân có lãi, nhưng không cao hơn vụ lúa đông xuân và hè thu 2020-2021. Lý do chính là do chi phí phân bón cao.

Nhiều đại lý vật tư nông nghiệp cho biết, sau nhiều lần tăng giá, giá phân bón hiện đang duy trì ở mức rất cao. So với đầu năm 2021, giá phân bón đã tăng 100.000 – 400.000 đồng/bao, gây nhiều khó khăn cho nông dân.

Cụ thể, giá một số loại phân bón như DAP, Urê, hạt…, đã tăng 50-80%, dao động từ 850.000 – 1.200.000 đồng/bao.

Giá nguyên liệu tăng mạnh là nguyên nhân chính khiến giá phân bón tăng. Ngoài ra, quá trình logistics bị phá vỡ trong nhiều giai đoạn, và các chi phí khác cũng tăng rất cao, điều này ảnh hưởng đến chi phí nguyên liệu cho sản xuất phân bón.

Ở những nơi đã thu hoạch lúa thu đông, nông dân đã xả nước vào ruộng để chuẩn bị cho vụ lúa đông xuân 2021-2022 thuận lợi hơn.

Theo kế hoạch, nông dân của tỉnh sẽ gieo trồng khoảng 10.000 ha trong giai đoạn đầu tiên. Khu vực gieo sạ chủ yếu ở các khu vực dọc quốc lộ 54 thuộc các huyện Trà On, Vũng Liêm và thị trấn Bình Minh, và khu vực dọc sông Mang thuộc huyện Tam Bình, huyện Mang Thít.

Hiện nay, nông dân các huyện Vũng Liêm, Trà On, Tam Bình, Bình Tân đã gieo cấy trên 4.300 ha lúa. Nói chung, lúa đang trong giai đoạn phát triển, làm đất và phát triển tốt, ít sâu bệnh có hại.

kinh-doanh-nong-nghiep-loai-bo-cac-rao-can-doi-voi-kinh-doanh-nong-nghiep

Kinh doanh nông nghiệp: Loại bỏ các rào cản đối với kinh doanh nông nghiệp

Kinh doanh nông nghiệp: Loại bỏ các rào cản đối với kinh doanh nông nghiệp. Để cải cách đồng bộ, hiệu quả các quy định về thủ tục hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp, thủ tục hành chính nội bộ trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, thời gian qua, Bộ NN&PTNT đã rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thành phần hồ sơ, thủ tục hành chính trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin.

Đến năm 2025, Bộ NN&PTNT sẽ cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% quy định và giảm ít nhất 20% chi phí tuân thủ các quy định về kinh doanh nông nghiệp trong các văn bản có hiệu lực đến hết ngày 31/5/2020.

Mục tiêu mà Bộ NN&PTNT đặt ra là số hóa kết quả các thủ tục hành chính còn hiệu lực với giá trị sử dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của trung ương để đạt tỷ lệ tối thiểu 40%.

Trong giai đoạn 2021-2025, số hóa sẽ tăng ít nhất 20% mỗi năm cho đến khi tỷ lệ đạt 100% để đảm bảo kết nối và chia sẻ dữ liệu liên quan đến giải quyết thủ tục hành chính trên nền tảng điện tử.

Mục tiêu của Bộ NN&PTNT là phấn đấu đạt ít nhất 90% tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp giải quyết thủ tục hành chính.

kinh-doanh-nong-nghiep-loai-bo-cac-rao-can-doi-voi-kinh-doanh-nong-nghiep

Để thực hiện các mục tiêu này, Bộ NN&PTNT đã tích cực thực hiện nhiều nhiệm vụ:

Thứ nhất, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các quy định về thủ tục hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp, đảm bảo các thủ tục hành chính mới được ban hành đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện.

Trọng tâm là thủ tục hành chính trong các lĩnh vực: bảo vệ thực vật, chăn nuôi, kiểm soát chất lượng sản phẩm nông lâm thủy sản, thú y, thủy sản và các lĩnh vực khác có tần suất giao dịch cao.

Thứ hai, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện; loại bỏ các thủ tục rườm rà, chồng chéo, dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp; loại bỏ thành phần hồ sơ không cần thiết, không hợp lý; tích hợp, giảm các hình thức, tờ khai, giấy tờ không cần thiết có nội dung thông tin trùng lặp (trên cơ sở ứng dụng công nghệ số và cơ sở dữ liệu có sẵn).

Thứ ba, cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh; loại bỏ các quy định bất hợp pháp, không cần thiết và không hợp lý; tổ chức thành công Chương trình “Cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025”.

Bốn là, thực hiện kiểm tra, thống kê, đơn giản hóa thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Năm là, thường xuyên cập nhật, công khai thủ tục hành chính trên Bộ phận một cửa trên trang thông tin điện tử của Bộ và các đơn vị, Cổng dịch vụ công của Bộ và Hệ thống thông tin một cửa, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp; hoàn thành đổi mới và thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa lồng vào nhau và ASEAN một cửa.

bon-phan-cho-cay-chom-chom-sai-triu-qua

Bón phân cho cây chôm chôm sai trĩu quả

Bón phân cho cây chôm chôm sai trĩu quả. Với quy trình sau chăm bón trên, bà con có thể đạt năng suất trung bình 20 tấn chôm chôm/ha.

Bón phân cho cây chôm chôm sai trĩu quả

Bón phân gì cho cây chôm chôm?

– Trước khi bón phân, cần xác định cây chôm chôm đang ở giai đoạn nào của quá trình phát triển và phát dục để chọn lựa phân bón cho phù hợp. Đối với cây chôm chôm, để đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho cây nên sử dụng các loại phân NPK dạng hỗn hợp với hàm lượng dinh dưỡng cao….. Điển hình là các dòng phân NPK công nghệ ure hóa lỏng của Công ty liên doanh phân bón Hữu Nghị.

– Khác với các dòng phân đơn thông thường, NPK Hữu Nghị ngoài việc có một hàm lượng lý tưởng đạm, lân, kali, còn đặc biệt được phối trộn thêm nguồn dinh dưỡng trung vi lượng cần thiết cho cây như Ca, Mg, S, Si, Bo, Cu, Zn… Khả năng tan tốt, tan hết để cây trồng có thể hấp thu được dinh dưỡng. Với những ưu điểm khi sử dụng này, sẽ vừa giúp cây chôm chôm phát triển toàn diện vừa tiết kiệm được rất nhiều công sức lao động cho bà con.

bon-phan-cho-cay-chom-chom-sai-triu-qua

 Các giai đoạn bón phân cho cây chôm chôm

Nếu trong giai đoạn cây đã cho trái, bón theo hình chiếu của tán cây, chia 4 đợt bón phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây.

– Bón lót 

Ngoài bón lót trước khi gieo trồng, sau mỗi lần thu hoạch và đốn tỉa, bà con cũng cần bón bổ sung phân hữu cơ cho cây để phục hồi dinh dưỡng trong đất. Bà con sử dụng phân bón hữu cơ Anfa Batorganic để bón phục hồi cho cây chôm chôm. Với hàm lượng lên đến 85% hữu cơ và một tỷ lệ nhỏ N, P, K, TE, đặc biệt bổ sung axit Humic và axit Fluvic, phân hữu cơ Anfa Batorganic sẽ giúp kích thích sự phát triển của rễ cây và giúp cây chôm chôm hồi sức nhanh chóng sau một vụ trĩu quả.

Bón 2 – 3 kg/1 cây phân bón hữu cơ sinh học Anfa Batorganic.

– Bón thúc 

+ Bón thúc 1: Để thúc đẩy quá trình sinh trưởng, tạo cành và lá mới cho cây, bà con bón NPK 16.16.8 cho chôm chôm ngay sau khi thu hoạch. Cây chôm chôm sẽ nhanh chóng hồi xanh, phát triển thân cành xum xuê tạo nền tảng hoàn hảo cho quá trình ra hoa, kết trái.

+ Bón thúc 2: Bón trước khi ra hoa

Bón NPK 15.15.15 để thúc cho cây chôm chôm trước khi ra hoa. Hàm lượng cân đối đạm, lân, kali trong dòng phân này giúp hoa chôm chôm ra đồng loạ, tăng tỷ lệ đậu quả.

Thời kỳ trước khi ra hoa bà con phun MKP cho Chôm chôm để tăng khả năng đậu hoa, hạn chế tối đa nguy cơ rụng quả non.

Bón thúc 3: Sau khi đậu quả

Được tính từ sau thụ phấn đến khi trái phát triển tối đa về thể tích. Giai đoạn này cần bón cân đối các chất đa lượng NPK và cả các chất trung và vi lượng nhằm giúp hạn chế tỷ lệ rụng trái, tăng nhanh việc phát triển thể tích trái và vỏ trái tạo điều kiện cho việc tăng số quả mỗi cây và tăng trọng lượng trung bình quả. Có thể bón một trong những loại phân NPK như NPK 13.13.13, NPK 15.15.15.

+ Bón thúc 4: Bón thúc nuôi quả

Dòng phân chuyên dụng cho quá trình nuôi trái chôm chôm là phân NPK 16.7.17. Do có tăng cường hàm lượng Kali trong thành phần, phân NPK 16.7.17 sẽ kích thích quả chôm chôm lớn nhanh, quả to, cùi dày và có màu sắc tươi tắn.

Để tăng phẩm chất quả chôm chôm, ngoài bón NPK, bà con bổ sung phun phân bón qua lá Kali Sulphate với liều lượng 50g/bình 18-20 lít nước cho cây.    Kết hợp các biện pháp trồng xen cây hoặc tháp, ghép cành chôm chôm đực, trong vườn theo tỉ lệ 1:8 hoặc 1:10, kết hợp nuôi ong mật trong vườn chôm chôm sẽ mang lại hiệu quả vô cùng tối ưu.

bi-quyet-trong-dau-tay-hai-khong-het-qua

Bí quyết trồng dâu tây hái không hết quả

Bí quyết trồng dâu tây hái không hết quả. Cây dâu tây thích hợp trồng trên đất thịt nhẹ, có hàm lượng chất hữu cơ cao, đất giữ ẩm nhưng phải thoát nước tốt. Đất giàu chất hữu cơ cây dâu tây sẽ phát triển tốt, năng suất cao và kéo dài được thời gian thu hoạch quả. Độ pH của đất thích hợp từ 6 – 7.

bi-quyet-trong-dau-tay-hai-khong-het-qua

Bón phân gì cho vườn dâu tây rộ trái?

Với giống cây trồng khá nhạy cảm như dâu tây,  cần một chế độ chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo cùng quy trình bón phân đúng kỹ thuật. Trong suốt thời gian cây phát triển cần thường xuyên bón phân cho cây bằng một số loại phân hữu cơ hoặc phân NPK đa nguyên tố, tránh sử dụng các dòng phân đơn với tỷ lệ dinh dưỡng mất cân đối, dễ khiến dâu tây bị ngộ độc.

Các thời kỳ bón phân cho dâu tây cụ thể như sau:

Bón lót 

Phân chuồng là loại phân bón lót lý tưởng cho hầu hết các loại cây trồng ngoại trừ dâu tây. Do quả dâu tây mọc quanh gốc, tiếp xúc gần với đất. Hơn nữa quả dâu lại rất mong manh, không có vỏ cứng bao bọc nên dễ tổn thương và dễ bị tấn công bởi các loại sâu bệnh gây hại. Các loại phân bò, phân gà nếu chưa thực sự được hoai mục hoàn toàn là điều kiện thuận lợi cho loài ruồi sống trong chuồng trâu bò sinh sôi và phát triển, đây là loài gây hại nghiêm trọng cho trái dâu tây.

Do đó để bón lót cho dâu tây, bà con dùng phân hữu cơ tổng hợp Anfa Batorganic kết hợp phân NPK 16.16.8 để bổ sung dinh dưỡng cho đất. Giúp cây con nhanh chóng hồi xanh và phát triển khỏe mạnh.

Bón thúc lần 1

Thời kỳ chuẩn bị ra hoa, bà con sử dụng phân NPK 13.13.13 hòa loãng với nước và tưới vào gốc cây dâu tây. Chú ý không để phân bám vào lá. Một cách bón khác bà con có thể áp dụng là bới một bên rạch sâu 10 – 15cm, rải phân và tủ đất để cây hấp thụ từ từ. Kỹ thuật bón phân này cho hiệu quả cao trên những diện tích dâu tây lớn.

Nước tưới cho dâu tây cần có chất lượng thực sự tốt, bởi vì dâu tây rất nhạy cảm với muối, đặc biệt là clorua (chứ không phải natri). Do đó, cần trang bị hệ thống nước tưới sạch cho dâu tây, có thể sử dụng nước vo gạo để tưới cho cây, nước gạo sẽ lên men trong đất giúp cây phát triển tốt hơn rất nhiều. Tuy nhiên chỉ tưới nước gạo khi cây đã trồng được 1 tuần. Không tưới nếu cây chưa bám rễ.

Bón thúc lần 2 

Trong suốt giai đoạn nuôi quả, bà con chia nhỏ làm nhiều lần bón phân. Lựa chọn dòng anfa german soper 3 chuyên nuôi quả dâu tây. Quả dâu tây mọc quanh gốc nên rất dễ dính phân bón nếu bón theo cách tưới nước thông thường. Vì vậy bà con nên bới đất và rạch sâu 10-15cm, rải phân, lấp đất sau đó mới tưới nước để cây hấp thụ an toàn.

Chu kỳ kinh doanh của cây dâu thu hoạch trái kéo dài đến 02 năm hoặc hơn. Đối với phân bón cho dâu tây, nguyên tắc chung là bón ít nhưng bón nhiều lần trong năm. Lượng phân có thể tăng hay giảm tùy thuộc vào sức sinh trưởng, phát dục, giai đoạn bội thu, chu kỳ ra trái của cây.

dau-tu-vao-nong-nghiep-la-dieu-lai-chau-khuyen-khich-cac-doanh-nghiep

Đầu tư vào nông nghiệp là điều Lai Châu khuyến khích các doanh nghiệp

Đầu tư vào nông nghiệp là điều Lai Châu khuyến khích các doanh nghiệp.

Cá nước lạnh có tiềm năng phát triển

Đoàn công tác đã đến thăm trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học của ông Trần Văn Tuấn tại thôn Pa Hảo, xã Bản Giang, huyện Tam Dương.

Ông Tuấn cho biết, hàng trăm tỷ đồng đã được đầu tư phát triển trang trại từ năm 2017. Trong bối cảnh phức tạp của dịch tả lợn châu Phi, các kỹ sư chăn nuôi và mười nhân viên bổ sung đã được cung cấp nhà ở và yêu cầu làm việc tại chỗ trong hai tháng.

“Hiện nay, Công ty Cổ phần C.P Việt Nam cung cấp tất cả các giống vật nuôi, cũng như thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y. Doanh nghiệp bao tiêu tất cả các mặt hàng đến thời điểm xuất khẩu và trả 4.500 đồng/kg lợn sống”, ông Tuấn nói và đánh giá lợi nhuận trong bối cảnh giá lợn không ổn định hiện nay và khẳng định đây là lợi nhuận đáng kể và ổn định.

dau-tu-vao-nong-nghiep-la-dieu-lai-chau-khuyen-khich-cac-doanh-nghiep

Cách tiếp cận chăn nuôi của ông Tuấn được Thứ trưởng Bộ NN&PTNT đánh giá cao khi tỷ lệ lợn chết và thiệt hại dưới 1,5%. “Hiện tại, nông nghiệp an toàn sinh học và một khu vực không có dịch nằm cách xa các khu dân cư đang phát triển mạnh. Để sản xuất thịt lợn chất lượng cao, điều quan trọng là phải tăng cường kiểm soát chế độ ăn uống của động vật và sử dụng kháng sinh. Ngay cả việc điều tiết thức ăn về độ sạch và an toàn thực phẩm cho con người”, Thứ trưởng nói.

Ngoài ra, lãnh đạo ngành nông nghiệp đã đến thăm địa điểm sản xuất giống phức tạp (cá hồi, cá tầm) và các sản phẩm cá lạnh thương phẩm của Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp xã Ngũ Chi Sơn.

Giám đốc HTX Vũ Văn Cảnh cho biết, vùng nuôi cá nước lạnh của HTX nằm ở độ cao 1.200m, có hoàn cảnh tự nhiên và môi trường thích hợp cho sự phát triển của cá tầm và cá hồi. Từ năm 2010 đến nay, HTX đã chi khoảng 40 tỷ đồng xây dựng 120 bể giống.

Đến năm 2022, sản lượng dự kiến đạt từ 200 tấn trở lên, phần lớn sản phẩm được tiêu thụ tại Hà Nội và khu vực phía Bắc.

Tuy nhiên, các bể nuôi và nuôi cá tầm và cá hồi thương mại vẫn xen kẽ trong thời điểm này. Ông Cảnh đề nghị tỉnh Lai Châu cấp đất để đầu tư chung nhằm thành lập cơ sở chăn nuôi tập trung, quy mô hiện đại cho khu vực.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết, một cơ sở nuôi cá nước lạnh ở Sapa bố trí cả một hệ thống để chuẩn bị và niêm phong túi nilon chân không sau đó được vận chuyển ra Hà Nội để bán. Do đó, HTX Ngũ Chi Sơn cũng phải tích lũy kinh nghiệm này để phát triển chuỗi giá trị cho sản phẩm cá tầm, cá hồi, từ đó tăng lợi nhuận.

Định hướng đưa Mường Tè trở thành “trung tâm gingseng” của miền Bắc

Chính quyền tỉnh Lai Châu cho biết, mặc dù tình trạng nghèo khó của tỉnh, tỉnh đã ban hành 5 kế hoạch và 5 nghị quyết để thúc đẩy “tam nông” (kết nối nông nghiệp, nông dân và nông thôn).

Lai Chải cũng là đơn vị dẫn đầu về chi ngân sách cho phát triển nông nghiệp, đã chi khoảng 1.000 tỷ đồng trong 5 năm qua.

dau-tu-vao-nong-nghiep-la-dieu-lai-chau-khuyen-khich-cac-doanh-nghiep

Ngoài ra, Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu đã trình bày 4 ý kiến đóng góp cho Bộ NN&PTNT tại buổi làm việc. Để bắt đầu, bộ đề nghị Bộ hỗ trợ tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư nông nghiệp vào tháng 11 hoặc cuối năm nay, với sự tham gia của các doanh nghiệp nông nghiệp lớn và có uy tín.

Theo người đứng đầu Ủy ban Nhân dân tỉnh Lai Châu, độ che phủ rừng của Lai Châu đã tăng lên 51%, đây là một lợi ích đáng kể cho sự phát triển của nghề nuôi ong và chăn nuôi. Ngoài ra, Lai Châu còn có nhiều vùng sinh học lý tưởng cho nuôi cá nước lạnh. Tuy nhiên, việc xác định chọn giống nào và làm thế nào để nhân giống công nghệ để truyền bá các mô hình vẫn là một thách thức đáng kể.

Thứ hai, Lai Châu có cửa khẩu quốc tế và thị trường nhiều chục triệu dân ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, nhưng chỉ số giá tiêu dùng tương đương với Hà Nội. Ví dụ, sản lượng thịt của tỉnh chỉ có thể đáp ứng khoảng 80% nhu cầu; 20% còn lại phải nhập khẩu từ khu vực phía Bắc.

gia-urea-ban-le-lien-tuc-tang-nong-vuot-moc-14-000-dong-kg

Giá urea bán lẻ liên tục tăng nóng vượt mốc 14.000 đồng/kg

Giá urea bán lẻ liên tục tăng nóng vượt mốc 14.000 đồng/kg. Trong thời điểm giá của tất cả các loại phân bón đều tăng thì ure cũng tăng không kém cạnh.

gia-urea-ban-le-lien-tuc-tang-nong-vuot-moc-14-000-dong-kg

Liên tục tăng mạnh trong những ngày qua, giá urea bán tới tay nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long đã vượt mốc nói trên sau 13 năm.

Theo thông tin từ một số thương nhân ngành phân bón, ngày 6/10, giá phân urea mà một số nhà máy cung cấp cho các đại lý cấp 1 đã ở mức trên dưới 13.000 đồng/kg.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá phân urea bán tới tay nông dân đã ở mức từ 590.000-720.000 đồng/bao, tương ứng với 13.800-14.400 đồng/kg.

Đây là mức giá rất cao và đã rất lâu rồi, giá phân urea bán tới tay người nông dân mới lại vượt mốc 14.000 đồng/kg. Một thương nhân ngành phân bón cho biết lần gần nhất giá phân urea hơn 14.000 đồng/kg khi tới tay nông dân là vào năm 2008.

Ngoài urea, giá một số loại phân bón chủ lực khác cũng tiếp tục tăng mạnh. Ngày 6/10, giá một loại DAP nội địa cung ứng cho đại lý cấp 1 đã ở mức 15.500 đồng/kg.

Tại ĐBSCL, giá DAP Trung Quốc bán cho nông dân đã vượt mốc 1 triệu đồng/bao khi ở mức 1,18-1,2 triệu đồng/bao (23.600-24.000 đồng/kg). Một loại DAP nội địa ở mức 850.000-870.000 đồng/bao (17.000-17.400 đồng/kg).

Giá DAP bán lẻ như trên vẫn chưa cao bằng năm 2008 (có thời điểm tới 27.000 đồng/kg), nhưng cũng là mức rất cao và chắc chắn sẽ khiến cho sản xuất của nông dân bị đội chi phí khá nhiều.

Cũng trong ngày 6/10, giá kali bán lẻ ở ĐBSCL từ 720.000-750.000 đồng/bao (14.400-15.000 đồng/kg), tăng 1.000-1.200 đồng/kg so với cuối tháng 9.

Cập nhật các tin tức tin tức nhanh chóng và chất lượng tại Phân bón Canada.

du-bao-sau-benh-duoc-so-hoa

Dự báo sâu bệnh được số hóa

Dự báo sâu bệnh được số hóa. Ngày 30/9, Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Công ty Cổ phần Giải pháp WeatherPlus (WeatherPlus) đã ký kết thỏa thuận hợp tác về phát triển và ứng dụng công nghệ 4.0 bao gồm thiết bị quan trắc thời tiết IMETOS, bẫy côn trùng trong bảo vệ thực vật. Hai bên cũng nhất trí về hợp tác quản lý và giám sát cây trồng để thích ứng với biến đổi khí hậu hướng tới nông nghiệp bền vững.

du-bao-sau-benh-duoc-so-hoa

Các trạm IMETOS thông minh giám sát sâu bệnh thực vật

Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&CN) Nguyễn Quý Dương cho biết, dự báo đã đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ thực vật để đảm bảo an toàn cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động này cho đến nay chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của nhân viên chuyên môn mà không có trợ lý thông minh.

Trước đó, hai bên đã hợp tác thành công trong việc thử nghiệm các trạm thời tiết thông minh để đưa ra cảnh báo sâu bệnh, đặc biệt là bệnh bùng nổ lúa ở các tỉnh phía Bắc. Trong lần hợp tác này, DDP và WeatherPlus tiếp tục phối hợp triển khai thí điểm mô hình công nghệ imetos (trạm IMETOS) để theo dõi, dự báo sâu bệnh trên các cánh đồng lúa ở nhiều tỉnh thành.

Hệ thống trạm IMETOS sẽ đánh giá mối liên hệ giữa sự phát triển của côn trùng, sâu bệnh có hại như bệnh nổ lúa, lá vi khuẩn sáng, planthopper nâu và các yếu tố thời tiết như nhiệt độ, độ ẩm, hướng gió và tốc độ. Trên cơ sở đó, có thể đưa ra thông tin dự báo thời tiết có độ tin cậy cao để giúp nông dân kịp thời có biện pháp phòng, chống sâu bệnh hiệu quả.

Theo thỏa thuận hợp tác trong giai đoạn 5 năm từ 2021 đến 2025, hai bên đã thống nhất triển khai 6 nội dung gồm: lắp đặt hệ thống trạm IMETOS; phối hợp thực hiện các dự án phát triển phần mềm truyền dữ liệu dự báo, cảnh báo thời tiết, xác định sâu bệnh, dự báo sâu bệnh dựa trên trạm IMETOS và thiết bị giám sát, tận dụng thông tin để quản lý cây trồng.

Ngoài ra, hai bên sẽ hợp tác thực hiện công tác dự báo, hướng dẫn cán bộ, nông dân địa phương phòng, chống sâu bệnh qua mạng viễn thông tại Việt Nam; đánh giá hiệu quả của việc áp dụng các hệ thống thời tiết, sâu bệnh, giám sát và dự báo dịch bệnh; dự báo và ước tính tác động và tác hại của sâu bệnh đối với một số cây trồng chủ lực.

Đề xuất cơ chế áp dụng thống nhất hệ thống giám sát, cảnh báo sớm tại các vùng sinh thái nông nghiệp của Việt Nam. Trên cơ sở đó, một kế hoạch cho một ứng dụng rộng rãi sẽ được phát triển trong tương lai gần.

Hai bên sẽ tiến hành các lớp tập huấn về sản xuất và bảo vệ cây trồng, chia sẻ thông tin về quan trắc và dự báo khí tượng IMETOS cũng như tình hình dịch bệnh

Với các nội dung đã thống nhất, chương trình hợp tác sẽ được thực hiện theo 4 giai đoạn.

Trong giai đoạn 1 từ năm 2021 đến năm 2022, hai bên sẽ hợp tác với nhau để thiết lập mạng lưới các trạm khí tượng nông nghiệp và chia sẻ dữ liệu; xây dựng mô hình thí điểm sử dụng công nghệ Imetos để theo dõi, dự báo và cảnh báo sớm các tác động, rủi ro.

Phối hợp chặt chẽ và chia sẻ thông tin

du-bao-sau-benh-duoc-so-hoa

Chủ tịch WeatherPlus Tô Đức Hải cho biết, chuyển đổi số trong nông nghiệp hiện đang thu hút sự quan tâm lớn của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như các cơ quan chuyên môn.

Trong đó, chuyển đổi nông nghiệp số dựa trên dữ liệu và hệ thống quan trắc thời tiết thông minh được khuyến khích phát triển. WeatherPlus đã cài đặt gần 80.000 trạm IMETOS trên toàn thế giới, đây là bằng chứng về hiệu quả của hệ thống trong cuộc sống thực.

Ông Hải cũng bày tỏ hy vọng trong lần hợp tác này hai bên sẽ bắt đầu một chương mới về ứng dụng công nghệ thông minh trong nông nghiệp trên tinh thần cởi mở, trách nhiệm và phối hợp chặt chẽ.

Thông qua sự hợp tác, cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực nông nghiệp có thể nâng cao hiệu quả trong quản lý dịch hại, hạn chế ảnh hưởng đến nông dân.

Thỏa thuận hợp tác cũng quy định rõ trách nhiệm của mỗi bên để các nội dung đã ký kết sẽ được ban hành theo đúng tiến độ và có hiệu quả cao nhất.

DDP có trách nhiệm cử nhân viên theo dõi tình hình dịch bệnh, đưa ra cảnh báo và dự báo về sâu bệnh để WeatherPlus có thể cung cấp thông tin cho khách hàng hoặc nông dân; hợp tác với WeatherPlus để nghiên cứu, thiết kế phần mềm cảnh báo và dự báo thông qua các trạm IMETOS và các nền tảng giám sát trực tuyến.

viet-nam-cung-cap-cao-su-thien-nhien-lon-thu-tu-cua-my

Việt Nam cung cấp cao su thiên nhiên lớn thứ tư của Mỹ

Việt Nam cung cấp cao su thiên nhiên lớn thứ tư của Mỹ. Nhập khẩu cao su của Việt Nam đã tăng mạnh tại thị trường Mỹ đặc biệt là về cao su thiên nhiên, cưỡi trên đà này để tăng thị phần.

viet-nam-cung-cap-cao-su-thien-nhien-lon-thu-tu-cua-my

Theo Ủy ban Thương mại Quốc tế (USITC), trong 7 tháng đầu năm 2021, Mỹ đã nhập khẩu 1,09 triệu tấn cao su, trị giá 2,19 tỷ USD, tăng 12% về lượng và tăng 27,6% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Indonesia, Thái Lan, Canada, Hàn Quốc và Bờ Biển Ngà là năm thị trường cung cấp cao su lớn nhất cho đất nước này.

Việt Nam đứng thứ 11 về nguồn cung cao su vào Mỹ trong 7 tháng đầu năm nay, đạt 23,51 nghìn tấn, trị giá 41,87 triệu USD, tăng 61% về lượng và tăng 92,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Nhờ sự gia tăng mạnh mẽ cả về lượng và giá trị như đã đề cập, thị phần cao su của Việt Nam trong tổng nhập khẩu cao su của Mỹ chiếm 2,2%, tăng nhẹ so với mức 1,5% trong 7 tháng đầu năm 2020.

Cũng trong giai đoạn này Việt Nam đáng chú ý đứng thứ 4 trong danh mục cao su thiên nhiên với 23,46 nghìn tấn nhập khẩu vào thị trường Mỹ, trị giá 41,65 triệu USD, tăng 60,8% về lượng và tăng 92,9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Thị phần cao su thiên nhiên của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Mỹ chiếm 4,3%, đây là mức tăng tích cực khi xem xét mức 2,9% trong bảy tháng đầu năm 2020. Tuy nhiên, Việt Nam hiện chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong thị phần (0,01%) trong tổng lượng nhập khẩu của Mỹ trong danh mục cao su tổng hợp.

Thị trường Mỹ là một thị trường tiềm năng của Việt Nam.

quan-li-dich-hai-tong-hop-duoc-nguoi-nong-dan-quan-tam

Quản lí dịch hại tổng hợp được người nông dân quan tâm

Quản lí dịch hại tổng hợp được người nông dân quan tâm. Chi cục Sản xuất và Bảo vệ thực vật tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức hội nghị đánh giá mô hình IPM áp dụng cho giống lúa VNR20 trồng trong 5 ha tại xã Minh Hương, huyện Hàm Yên.

quan-li-dich-hai-tong-hop-duoc-nguoi-nong-dan-quan-tam

Ông Trần Hải Tuyền, Trưởng phòng cho biết, trên địa bàn xã có 30 hộ tham gia mô hình. Họ được cung cấp hạt giống lúa và được đào tạo để áp dụng kỹ thuật canh tác có liên quan.

Giống lúa VNR20 có những ưu điểm vượt trội như thời gian ngắn, thân cứng, chiều cao cây vừa phải, cày mạnh, chống đổ tốt, kháng sâu bệnh tốt; số lượng hạt trên bông cao, gieo hai vụ trong một năm và chất lượng tốt.

Việc áp dụng IPM cho giống lúa VNR20 đã giúp nông dân sớm bảo vệ lúa khỏi bệnh tật, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng cách và mở đường cho họ sản xuất lúa hữu cơ tại xã Minh Hương.

30 hộ nông dân khác ở thị trấn Lăng Can, huyện Lâm Bình cũng áp dụng mô hình IPM trên tổng diện vi 3 ha. Tất cả các hộ đều sử dụng cùng một giống lúa VNR20, cùng một kỹ thuật canh tác và các biện pháp phòng trừ sâu bệnh.

Theo nông dân, lúa của họ phát triển tốt với ứng dụng IPM. Đặc biệt, họ tiết kiệm chi phí sản xuất vì chỉ sử dụng các sản phẩm bảo vệ thực vật một lần, từ đó sản xuất gạo an toàn hơn, đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng và môi trường.

Năng suất lúa trong mô hình ước đạt 63,7 quintal/ha, cao hơn 8 năm/ha so với cánh đồng đối chứng.

Ông Tạ Văn Tĩnh, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Yên Sơn cho biết, việc áp dụng IPM đã được chứng minh hiệu quả vì nó đã giúp nông dân phát triển canh tác bền vững, sử dụng ít sản phẩm hóa chất, tiết kiệm nước và sử dụng nhiều phân bón hữu cơ và sinh phẩm để phục hồi đất.

Ông Nguyễn Đức Cẩn, một nông dân ở xã Tân Long, huyện Yên Sơn cho biết, ông đã áp dụng IPM trên hai sao (tương đương 720 m2.m) ngô của mình.

“Tôi đã tham dự các lớp đào tạo về IPM”, ông nói, thêm rằng bây giờ ông hiểu thêm về IPM giúp đảm bảo sức khỏe con người và năng suất cây trồng.

Việc áp dụng IPM tại tỉnh Tuyên Quang đã tạo nền tảng vững chắc cho việc áp dụng VietGAP và canh tác hữu cơ tại địa phương.