Tôi Yêu Việt Nam_Mùa Hoa Sữa Hà Nội
Hoa sữa nở vào mùa nào? Những con đường ngập tràn hoa sữa ở Hà Nội
Hoa sữa là một “đặc sản” của thủ đô Hà Nội cổ kính. Hương hoa sữa làm nhiều người nhớ về Hà Nội, về nét đẹp của thủ đô ngàn năm văn hiến. Hoa sữa cũng làm cho người ta hít thở mỗi mùa hoa đều phủ trắng cả con đường nhưng cứ đến mùa lại mong. Hoa sữa nở vào mùa nào và con đường nào ở Hà Nội dành cho những tín đồ yêu hoa sữa. Cùng tìm hiểu về hoa sữa và kiểu dáng đẹp của loài hoa gắn liền với người Hà Nội trên các cung đường của thủ đô nhé!

I. Hoa sữa nở vào mùa nào?
Hoa sữa hay còn gọi là mò cua, mò cua là loài cây nhiệt đới thường xanh có thể cao đến 50m. Hoa sữa mọc thành chùm, bông hoa nhỏ màu trắng đến màu vàng nhạt thuộc loài hoa tự tán. Hoa sữa có mùi thơm giống với hoa dạ lý hương rất thơm nhưng khá nồng nên tùy sở thích của mỗi người mà hoa sữa có thể là loài hoa mà nhiều người sinh sống ở Hà Nội mong chờ nhưng cũng là loài hoa “đáng sợ” với rất nhiều người không thích mùi của hoa sữa. Hoa sữa còn có mặt ở một số các quốc gia Đông Nam Á và Nam Trung Hoa, Ấn Độ, Sri Lanka, Nepal, Úc, Papua New Guinea.

Hoa sữa là loài cây khá dễ trồng và chăm sóc lại có tán rộng, dày nên thích hợp cho những công trình công cộng, cây bóng mát chủ yếu tại các tuyến phố, khu dân cư, trường học ở Hà Nội.
Hoa sữa thường được nhắc đến như một biểu tượng mùa thu của Hà Nội. Giữa tháng 9, đầu tháng 10 là khoảng thời gian những chùm hoa sữa đầu mùa bắt đầu hé nở và đưa hương thơm ngát cả một khoảng trời, gióc phố Hà Nội. Người ta thường nói ngày Hà Nội đón những đợt gió lạnh đầu tiên cũng là lúc mà hoa sữa bắt đầu nở rộ trên các tuyến đường, con phố khắp thủ đô. Nhiều người yêu, có kẻ ghét mùi hương hoa sữa thế nhưng không thể phủ nhận rằng hoa sữa vẫn luôn là một điều gì đó khiến lòng người nhớ về Hà Nội.

Mùa hoa sữa nở, những cơn gió nhẹ đem theo hơi lạnh đầu mùa là lúc người ta chỉ muốn ngồi yên một góc nào đó, thưởng thức một ly cafe nóng hổi và hít hà hương hoa sữa thơm nồng nàn hoặc cùng người thương dắt tay nhau bên bờ hồ Tây, lượn lờ phố xá trong hương hoa sữa len lỏi khắp “mùa thu” Hà Nội. Mùa hoa sữa Hà Nội chỉ cần ra đường với người mình thương là bao nhiêu muộn phiền của một ngày sẽ tan biến hết, đường phố chỉ còn không khí lạnh dịu dàng, cái nắng nhẹ mùa thu và hương hoa sữa quyến luyến lan tỏa khắp mọi ngóc ngách của Hà Nội.

Tranh thủ những ngày chớm lạnh, hoa sữa nở đèo nhau đi ăn bánh giò thơm ngon, rồi tối muộn lượn một vòng hồ Tây, lang thang trên những con phố “thiên đường hoa sữa”. Cùng nhau đi hết bao nhiêu đoạn đường thơ mộng thoáng mùi hoa sữa trên phố thì dù là bạn bè hay người yêu chắc chắn đây sẽ là những kỷ niệm đẹp khó quên về mùa thu – gió lạnh đầu mùa ở Hà Nội

Đối với người yêu hoa sữa thì mùa thu Hà Nội có thể là mùa đẹp nhất trong năm nhưng đối với những ai không thích mùi hoa sữa bởi chúng quá nồng thì mùa hoa sữa lại là mùi hương “kinh hoàng”. Trong tiết trời dịu nhẹ, trong veo của mùa thu, Hà Nội se lạnh vào sáng sớm, đến trưa trời hửng nắng, chiều chiều gió nhẹ đưa hương hoa sữa lan tỏa cả một vùng. Hoa sữa đẹp ai cũng công nhận nhưng hoa sữa “thơm” thì vẫn là điều khiến những ai đang sinh sống, học tập ở thủ đô tranh cãi. Hoa sữa có đẹp tinh khôi đến mấy thì năm nào hoa sữa nở lại là mùa những mâu thuẫn của phe hoa sữa và phe ghét hương hoa sữa diễn ra.

Hoa sữa từng chùm hoa nhỏ xinh, trắng muốt rất tinh khôi, nhưng so với hầu hết các loài hoa đặc trưng của Hà Nội thì chỉ có hoa sữa là hương thơm “độc tôn” nhất. Hoa sữa một cây có thể khiến nhiều người thích nhưng hoa sữa cả con đường như ở Hà Nội lại là điều khiến rất nhiều người “sợ” mùi hương ngào ngạt của loài hoa này. Hoa sữa đẹp, hoa sữa thơm nhưng với nhiều người thì hoa sữa ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt vậy nên chính quyền thành phố Hà Nội đã có quyết định di dời một số cây hoa sữa ở Hà Nội đến các vùng ngoại ô để trồng.

Thêm nữa hoa và quả của cây hoa sữa có khá nhiều lông, đến mùa phát tán trong không khí dễ gây dị ứng, viêm xoang, các bệnh về đường hô hấp. Phấn hoa sữa dễ làm người già, trẻ nhỏ viêm mũi dị ứng, viêm phế quản. Những người có tiền sử hen suyễn, viêm xoang thì càng bị dai dẳng hơn. Vậy nên những tín đồ của hoa sữa cũng đừng buồn vì hoa sữa phải di dời khỏi trung tâm thành phố đông người nhé!

Rất nhiều người sau khi rời xa Hà Nội vẫn luôn nhớ về hương hoa sữa và cái lạnh đầu mùa của thủ đô nên hễ trở về Hà Nội mùa này là chỉ muốn đến những cung đường ngập hoa để hít hà, ôm trọn hương thơm ngát này đi khắp muôn nơi.
II. Những tuyến đường hoa sữa ở Hà Nội
Dành riêng cho những ai yêu thích sắc trắng hoa sữa và mùi hương đậm đặc không lẫn vào đâu của loài hoa này đó là những tuyến đường trồng nhiều hoa sữa khắp Hà Nội cho bạn thỏa sức mà hít hà mà “ôm trọn” nhé! Còn đối với ai sợ mùi hoa sữa gây “choáng váng đến quên đường” thì hãy tránh những con đường này vào mùa thu, mùa chớm đông Hà Nội nhé!
1. Phố Nguyễn Du
2. Phố Quang Trung
3. Đường Lạc Long Quân
4. Đường Nguyễn Chí Thanh

5. Đường Trung Hòa
6. Phố Trần Duy Hưng
7. Đường Lê Văn Lương
8. Đường Duy Tân
9. Đường Quán Thánh
10. Đường Lê Quang Đạo

11. Phố Lê Đức Thọ
12. Phố Lò Đúc
13. Phố Đào Tấn
14. Đường Thụy Khuê
15. Phố Cửa Bắc
16. Đường quanh Hồ Tây
III. Cách trồng hoa sữa ra sao?
Chuyên mục dành cho những ai muốn đem hương mùa thu Hà Nội về nhà nhé! Nếu rời xa thủ đô nhưng vẫn nhớ về hoa sữa thì chẳng còn cách nào khác là trồng một cây cho riêng mình phải không nào. Nếu bạn không biết làm sao để trồng và chăm sóc cây hoa sữa thì sau đây là những thông tin hữu ích dành cho bạn nhé!

Bạn có thể mua cây giống hoặc tự ươm cây bằng hạt hoa sữa rất dễ dàng. Hoa sữa là loài cây không cần quá nhiều công chăm sóc bạn chỉ cần chú ý khoảng thời gian cây còn nhỏ đến khi cây cứng cáp một chút đem trồng tại khoảng đất thoáng, nhiều nắng là cây phát triển rất nhanh nhé! Cây hoa sữa có tốc độ sinh trưởng nhanh nên chỉ cần đủ nước đủ ánh sáng, nhất là lúc cây còn nhỏ, bộ rễ chưa cắm sâu vào lòng đất hút chất dinh dưỡng. Chẳng mấy là hương hoa sữa đặc trưng Hà Nội sẽ tỏa hương ngào ngạt tại nơi bạn sinh sống.
Hy vọng bài viết cung cấp những thông tin hữu ích về mùa hoa sữa đặc trưng của Hà Nội. Chúc bạn sẽ có khoảng thời gian thật đẹp tại Hà Nội từng độ thu, đông ở thủ đô nhé!
Thanh Tuyền / Cattour.vn – Ảnh: Internet

Các nguyên tố vi lượng (Zn, Cu, Fe, Mn, B, Mo) là các nguyên tố chỉ chiếm 10-4 đến 10-5 so với khối lượng khô, cây trồng có nhu cầu bón không nhiều, song trong hoạt động sống của cây các nguyên tố này có vai trò xác định không thể thiếu và không thể thay thế bằng các nguyên tố khác được.
Trước đây vai trò của các nguyên tố vi lượng ít được chú ý vì nhu cầu vi lượng thấp lại thường được đưa vào cùng với phân chuồng và các loại phân đa lượng khác.
Sau này các loại phân đạm, lân, kali đơn chất, đậm đặc và tinh khiết được bón ngày càng nhiều (phân urê chỉ có đạm, phân DAP chỉ có N và P). Bón nhiều phân thì năng suất cao song cũng khai thác triệt để các nguyên tố vi lượng trong đất mà nguồn cung cấp lại không có. Dần dần qua thực tiễn sản xuất người ta nhận thức ngày càng rõ hơn vai trò không thể thiếu được của các nguyên tố vi lượng.
Thiếu nguyên tố vi lượng thì cây mắc bệnh và phát triển không bình thường, song nhiều nguyên tố vi lượng lại là các kim loại nặng nếu thừa thì độc cho cả cây và người tiêu thụ sản phẩm.
Cây thiếu vi lượng là do đất thiếu vi lượng (thiếu tuyệt đối). Cây thiếu vi lượng còn là do nhiều nguyên nhân khác như bón nhiều vôi, pH tăng làm nhiều nguyên tố vi lượng (Fe, Mn, Cu, Zn) bị cố định lại cây không đồng hóa được. Cây bị đói vi lượng còn do đối kháng về mặt dinh dưỡng như bón nhiều kali cây hút B ít đi gây hiện tượng thiếu Bo làm cây mắc bệnh (thối nõn dứa do thiếu B).
Việc quan sát cây trồng để xác định thiếu dinh dưỡng rất khó vì các triệu chứng trên lá thường không đặc trưng. Thí dụ rất khó phân biệt triệu chứng thiếu đạm, thiếu lưu huỳnh, thiếu sắt, thiếu molypden nếu chỉ quan sát trên bộ lá.
Muốn đánh giá việc thiếu vi lượng nếu không qua phân tích đất và lá thì phải dựa đầy đủ vào quá trình hình thành đất, nghiên cứu bản đồ địa chất, lịch sử sử dụng đất đai (chế độ canh tác, chế độ bón phân, loại phân đã sử dụng, mức độ thâm canh, tình hình sử dụng vôi và việc bón phân hữu cơ).
Phân vi lượng thường được cung cấp qua lá để tránh bị đất cố định. Phun qua lá việc cung cấp vi lượng vừa kịp thời vừa trực tiếp, lại tiết kiệm hơn.
Vai trò của Kẽm (Zn)
Zn cần cho nhiều chức năng hóa sinh cơ bản trong cây như: tổng hợp xytôchrom và nuclêôtit, trao đổi auxin, tạo diệp lục, hoạt hóa men và duy trì độ bền vững của màng tế bào.
Zn tích lũy trong rễ song lại có thể di chuyển từ rễ đến các bộ phận đang phát triển khác trong cây. Trong tán lá cây Zn lại di chuyển rất ít, đặc biệt là khi cây thiếu đạm. Triệu chứng thiếu Zn thường thấy trên lá non và lá bánh tẻ.
Rất nhiều cây trồng có phản ứng tích cực với Zn, nhất là trên đất đã liên tục được bón nhiều lân.
Triệu chứng thiếu kẽm (Zn)
- Triệu chứng thiếu chủ yếu xuất hiện trên các lá đã trưởng thành hoàn toàn thứ hai và thứ ba tính từ ngọn cây.
- Ở ngô, từ một sọc vàng nhạt đến một dải các mô màu trắng hoặc vàng với các gân màu đỏ tía giữa gân giữa và các mép lá, xảy ra chủ yếu ở phần thấp hơn của lá.
- Ở lúa mì, một dải theo chiều dọc các mô lá, màu trắng hoặc vàng, tiếp theo là đốm vàng úa giữa các gân lá và các tổn thương hoại tử màu trắng đến nâu ở giữa phiến lá, sự sụp đổ cuối cùng của các lá bị ảnh hưởng ở gần phía giữa.
- Ở lúa, sau cấy 15-20 ngày, các đốm nhỏ rải rác màu vàng nhạt xuất hiện trên các lá già hơn sau đó phát triển rộng ra, hợp lại và trở thành màu sẫm, toàn bộ lá trở nên màu nâu dỉ và bị khô trong vòng một tháng.
- Ở chanh cam, úa vàng giữa các gân lá không đều, các lá cuối cùng trở nên nhỏ và hẹp, sự hình thành nụ quả bị giảm mạnh, cây có cành bị chết.
Vai trò của Đồng (Cu)
Cu cần cho việc tổng hợp linhin (và do vậy đóng góp vào việc bảo vệ màng tế bào), có tác dụng chống đổ. Cu xúc tiến việc oxy hóa axit ascobic (Vitamin C), hoạt hóa các men oxidaza, phenolaza và plastoxyanin. Cu là tác nhân điều chỉnh trong các phản ứng men (tăng cường, ổn định và hạn chế) và là chất xúc tác các phản ứng oxy hóa-khử.
Đồng đóng vai trò then chốt trong các quá trình sau đây:
- Trao đổi đạm, prôtêin và hoccmôn.
- Quang hợp và hô hấp.
- Hình thành hạt phấn và thụ tinh.
Đồng thường được cung cấp dưới dạng thuốc trừ nấm. Nếu đã dùng thuốc bảo vệ thực vật có Cu thường không phải lo cây thiếu Cu.
Trồng cây trên đất than bùn, đất lầy thụt cây thường phản ứng tốt với việc bón Cu.
Triệu chứng thiếu đồng (Cu):
- Ở cây ngũ cốc, vàng và quăn phiến lá, sản lượng bông hạn chế và hình thể hạt kém, đẻ nhánh không rõ.
- Ở chanh cam, cây mới mọc bị chết, quả có những đốm nâu.
Vai trò của Sắt (Fe)
Fe cần cho việc vận chuyển êlectron trong quá trình quang hợp và các phản ứng oxy hóa-khử trong tế bào. Fe nằm trong thành phần của Fe-porphyrin và Ferrodoxin, rất cần cho pha sáng của quá trình quang hợp... Fe hoạt hóa nhiều enzim như catalaza, sucxinic dehydrôgenaz avà aconitaza.
Thiếu Fe việc hút K bị hạn chế. Ở các chân đất kiềm, đất hình thành trên đá vôi, đất đồi quá trình oxy hóa mạnh cây thường hay thiếu Fe.
Triệu chứng thiếu sắt (Fe):
- Úa vàng giữa các gân lá điển hình, các lá non nhất bị ảnh hưởng trước hết, đỉnh và mép lá giữ màu xanh lâu nhất.
- Trong trường hợp thiếu nặng, toàn bộ lá, gân và vùng giữa các gân lá chuyển màu vàng và cuối cùng có thể trở thành trắng nhợt.
Vai trò của Mangan (Mn)
Mangan tham gia các phản ứng oxyhóa-khử trong hệ thống vận chuyển êlectron và thải O2 trong quá trình quang hợp. Mn cũng hoạt hóa nhiều enzim như ôxidaza, perôxidaza, dehydrôgenaza, decarbôxilaza và kinaza.
Mangan cần thiết cho các quá trình sau đây:
Hình thành và ổn định lục lạp.
Tổng hợp prôtêin.
Khử nitrat thành NH4 trong tế bào.
Tham gia chu trình axit tricacbôxylic (TCA).
Mn++ xúc tác việc hình thành axit phôtphatidic trong việc tổng hợp phôtpholipit để xây dựng màng tế bào. Mn làm dịu độc Fe đối với cây.
Nhu cầu mangan của cây thường xuất hiện ở đất có pH > 5,8. ở đất chua hơn thường đất đã thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu Mn của cây (Katalymov M. V., 1965).
Triệu chứng thiếu mangan (Mn):
- Úa vàng giữa các gân của lá non, đặc trưng bởi sự xuất hiện các đốm úa vàng và hoại tử ở vùng giữa các gân lá.
- Xuất hiện những vùng hơi xám gần gốc các lá non hơn và trở thành vàng nhạt đến vàng da cam.
- Triệu chứng thiếu được biết phổ biến ở yến mạch là "vệt xám", ở đậu Hà Lan là "đốm lầy", ở mía là "bệnh vân sọc".
Vai trò của Bo (B)
Bo có vai trò hàng đầu trong việc xây dựng cấu trúc và tạo độ bền chắc cho màng nguyên sinh chất. Bo cần cho việc trao đối hydratcacbon, vận chuyển đường, tổng hợp nuclêôtit và linhin hóa thành tế bào. Thiếu B đỉnh sinh trưởng chết, nên giai đoạn phân hóa bông lúa mà thiếu B thì lúa không có bông. Thiếu B làm giảm sức sống của hạt phấn.
B không có mặt trong các men và không ảnh hưởng đến hoạt động men.
Việc định lượng B bón cần phải căn cứ vào đặc điểm sinh học của cây và tính chất đất. Ngưỡng thiếu và ngưỡng độc B của các loại cây mẫn cảm với B như: dưa chuột, đậu đũa, chanh, nho rất gần nhau, nên không cẩn thận bón thừa B sẽ có tác dụng tiêu cực.
Triệu chứng thiếu bo (B):
- Cây đang mọc bị chết (đầu chồi).
- Lá có kết cấu dày, đôi lúc cong lên và trở nên giòn.
- Hoa không hình thành và dễ sinh trưởng còi cọc.
- "Ruột nâu" ở cây có củ đặc trưng bởi những đốm thẫm màu trên phần dày nhất của rễ hoặc nứt nẻ ở phía giữa.
- Các loại quả như táo phát triển triệu chứng "xốp bên trong và bên ngoài".
Vai trò của môlypden (Mo)
Trong cây Mo tập trung trong men khử nitrat, nên cây thiếu Mo thì quá trình khử nitrat thành NH4+ trong cây không được thực hiện, nên cây đồng hóa NO3- mà vẫn thiếu protit và tích lũy NO3-.
Môlypden do vậy rất cần cho các vi sinh vật cố định N tự do cũng như vi sinh vật cố định N cộng sinh.
Cũng chính vì vậy cây bộ đậu cần được cung cấp đủ Mo. Thiếu Mo cũng có triệu chứng như thiếu N.
Việc thiếu môlypden thường xảy ra trên đất chua. Khi tăng mỗi đơn vị pH thì lượng ion MoO¬4mo= có thể tăng 10 lần nếu đất có Mo.
Bón vôi làm tăng Mo dễ tiêu vì tăng pH. Các loại phân gây chua lại làm giảm Mo dễ tiêu. Do vậy bón nhiều và bón liên tục các loại phân gây chua sẽ mở rộng việc thiếu Mo.
Cây chỉ cần rất ít Mo (vài mg/ha) và thường dự trữ Mo trong hạt đã đủ phòng chống việc thiếu Mo cho cây trồng sau này. Weir và Hudson (1966) đã nhận xét: hầu như không thấy ngô, trồng ngay cả trên đất nghèo Mo, có triệu chứng thiếu Mo khi hàm lượng Mo trong hạt ngô cao hơn 0,08 mg/kg hạt, nhưng lại có triệu chứng thiếu Mo nếu hàm lượng Mo trong hạt xuống dưới 0,02 mg/kg hạt.
Triệu chứng thiếu môlypden (Mo):
- Đốm úa vàng giữa các gân của những lá dưới, tiếp đó là hoại tử (chết thối) mép lá và lá bị gập nếp lại.
- Ở xúp lơ, các mô lá bị héo tàn, chỉ còn lại gân giữa của lá và một vài mẩu phiến lá nhỏ.